a

THƯƠNG CHÚC THẦY CÔ VÀ ANH CHỊ EM ĐỒNG MÔN TRƯỜNG HOÀNG DIỆU MỘT NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 AN LÀNH VÀ HẠNH PHÚC

b

b
CHÚC QUÝ THẦY CÔ VÀ ĐỒNG MÔN HOÀNG DIỆU NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 VẠN SỰ NHƯ Ý - AN KHANG THỊNH VƯỢNG.

Thứ Năm, 19 tháng 2, 2026

Plato đã đúng

 

Quan sát của triết gia vĩ đại về Trái Đất đã chính xác từ 2.400 năm trước.

Trong tác phẩm Timaeus viết vào khoảng năm 360 trước Công nguyên, triết gia Hy Lạp cổ đại Plato từng đưa ra một giả thuyết gây tranh cãi rằng Trái Đất được cấu tạo từ các khối lập phương. Suốt hàng nghìn năm, ý tưởng này bị xem là sự suy diễn mang tính biểu tượng hoặc tâm linh hơn là khoa học thực tiễn. Tuy nhiên, một nghiên cứu mang tính đột phá được công bố trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences đã chứng minh rằng trực giác của Plato chính xác đến mức kinh ngạc dưới góc nhìn của toán học và địa chất học hiện đại.

Tượng triết gia vĩ đại Plato, người sống cách đây khoảng 2.400 năm ở Athens (Hy Lạp)

Các nhà khoa học từ Đại học Pennsylvania, Đại học Eötvös Loránd và Đại học Debrecen đã sử dụng các mô hình toán học và hình học tiên tiến để phân tích hình dạng của các mảnh đá trên khắp hành tinh. Họ phát hiện ra rằng khi bất kỳ loại đá nào bị vỡ ra một cách tự nhiên do các tác động vật lý như xói mòn hay va đập, các mảnh vỡ có xu hướng tạo thành những hình dạng mà về mặt thống kê trung bình là khối lập phương.

Nghiên cứu bắt đầu bằng cách sử dụng các mô hình máy tính để cắt ngẫu nhiên một thực thể ba chiều thành nhiều phần khác nhau. Sau đó, nhóm nghiên cứu so sánh kết quả này với hàng nghìn mảnh đá thực tế được thu thập từ tự nhiên, từ các mỏ đá cho đến các mảnh vụn nhỏ nhất. Kết quả cho thấy cho dù đó là những tảng đá khổng lồ bị nứt vỡ do băng giá hay các hạt sỏi bị mài mòn, hình dạng hình học cơ bản của chúng luôn hội tụ về những khối sáu mặt có tính chất tương đồng với khối lập phương.


Dù thế nào mọi thứ đều là khối lập phương

Điều này có nghĩa là tầm nhìn của Plato về cấu trúc của thế giới không chỉ là triết học trừu tượng. Trong hệ thống các khối đa diện đều của mình, Plato tin rằng mỗi nguyên tố cơ bản của vũ trụ gắn liền với một hình khối nhất định, trong đó khối lập phương đại diện cho Đất vì tính ổn định bền vững của nó. Khoa học hiện đại giờ đây xác nhận rằng nếu chúng ta chia nhỏ lớp vỏ Trái Đất thành những phần cơ bản nhất, chúng thực sự tuân theo trật tự hình học mà ông đã mô tả từ hơn 2300 năm trước.

Khám phá này không chỉ minh oan cho một trong những bộ óc vĩ đại nhất lịch sử mà còn mở ra cách nhìn mới về cách các hệ thống địa chất trên hành tinh chúng ta vận hành. Nó cho thấy toán học và hình học là ngôn ngữ nền tảng thực sự của tự nhiên, giống như cách mà các triết gia cổ đại đã từng tin tưởng. Trái Đất không đơn thuần là một quả cầu hỗn độn của đá và đất, mà là một tập hợp có trật tự được xây dựng từ những hình khối hình học cơ bản và đồng nhất nhất.

Lòng hồ đầy "tàu ma" ở Mỹ

Khu vực Ngũ Đại Hồ có từ 6.000 đến 10.000 xác tàu đắm, phần lớn vẫn chưa được tìm thấy

Từ những lời kể mơ hồ, “tàu ma” F.J. King cuối cùng cũng lộ diện sau 140 năm chìm trong bão dữ ở hồ Michigan, ngoài khơi bang Wisconsin - Mỹ. Đó là kết quả sau gần 50 năm nỗ lực tìm kiếm của Hội Lịch sử Wisconsin và Hiệp hội Khảo cổ học dưới nước Wisconsin.

Nhóm do nhà nghiên cứu Brendon Baillod dẫn dắt gần đây tiết lộ xác "tàu ma" được tìm thấy ngoài khơi Baileys Harbor, một thị trấn khoảng 280 người trên bán đảo Door thuộc bang Wisconsin. Đây là phần mũi đất nhô ra hồ Michigan, tạo nên hình dạng "ngón tay cái" đặc trưng của bang này.


Ảnh gốc trong bộ sưu tập của chuyên gia Brendon Baillod cho thấy tàu F.J. King chỉ có 2 cột buồm và chỉ được lắp thêm cột buồm thứ 3 không lâu trước khi bị đắm. Ảnh: Hội Lịch sử Wisconsin

Giải mã "tàu ma" F.J. King

Tàu chở hàng 3 cột buồm mang tên F.J. King dài gần 44 m, được đóng năm 1867 tại TP Toledo thuộc bang Ohio - Mỹ, chuyên dùng vận chuyển ngũ cốc và quặng sắt.

Nhóm nghiên cứu cho hay F.J. King gặp bão dữ giữa đêm khuya khiến tàu chìm ngoài khơi bán đảo Door ngày 15-9-1886, tức sau khoảng 19 năm hoạt động. Khi đó, con tàu đang chở quặng sắt từ Escanaba, bang Michigan tới Chicago, bang Illinois - Mỹ.

Bão lớn tạo ra những con sóng cao tới 3 m, làm bục các mối nối thân tàu. Sau nhiều giờ bơm nước, thuyền trưởng William Griffin ra lệnh cho thủy thủ đoàn xuống xuồng cứu sinh mang theo.


Hình ảnh mô phỏng 3D F.J. King cho thấy phần mũi tàu bị hư hại khi chìm xuống đáy hồ Michigan, còn phần đuôi bị thổi bật trong cơn bão. Ảnh: Hội Lịch sử Wisconsin

Con tàu cuối cùng chìm phần mũi trước vào khoảng 2 giờ sáng, phần nhà boong phía đuôi bị thổi bay trong cơn bão, hất tung giấy tờ của thuyền trưởng Griffin lên không trung hàng chục mét.

Thời điểm đó, một chiếc tàu buồm đi ngang qua đã hỗ trợ thủy thủ đoàn và đưa họ về thị trấn Baileys Harbor.

Từ thập niên 1970, rất nhiều nhóm đã cố gắng tìm kiếm tung tích F.J. King nhưng không mang lại kết quả, do những mâu thuẫn về lời kể vị trí khi con tàu đắm. 

Thuyền trưởng Griffin báo cáo con tàu chìm cách Baileys Harbor khoảng 8 km, trong khi người gác hải đăng nói đã thấy cột buồm của tàu trồi lên khỏi mặt nước gần bờ hơn.

Ngư dân cũng nhiều lần khẳng định lưới của họ từng kéo lên các mảnh vỡ của con tàu.

Các nhóm săn xác tàu sau đó lùng sục khắp khu vực nhưng đều tay trắng. Vì thế, theo thời gian, F.J. King trở thành một huyền thoại trong cộng đồng săn tìm xác tàu đắm ở bang Wisconsin.

"Chúng tôi thực sự muốn vén màn bí ẩn này nhưng cũng từng nghĩ sẽ không làm được" – đài CNN dẫn lời nhà sử học hàng hải Baillod cho biết. 

Chuyên gia Baillod tin rằng do trong đêm tối nên thuyền trưởng Griffin khi đó có thể không biết chính xác vị trí tàu chìm. Ông vạch ra khu vực rộng 5,17 km² quanh vị trí do người gác hải đăng cung cấp và tiến hành tìm kiếm.

Nhóm sử dụng công nghệ sonar, bất ngờ phát hiện một vật thể dài khoảng 42,6 m, cách vị trí người gác hải đăng nêu ra chưa đầy 0,8 km và hóa ra đó chính là tàu F.J. King.

"Một vài người trong chúng tôi phải véo nhau để tin đó là thật"- chuyên gia Baillod hồ hởi - "Con tàu trước đó dường như đã biến mất không dấu vết. Qua bao lần tìm kiếm thất bại, chúng tôi không ngờ cuối cùng đã tìm thấy F.J. King và cũng không ngờ lại nhanh đến vậy".

Ông Baillod bày tỏ: "Thật không thể tin nổi khi nhóm chúng tôi là những người đầu tiên nhìn thấy tàu F.J. King kể từ năm 1886".


Vì sao con người không thuần hóa được ngựa vằn?

 

Cùng họ nhà ngựa, cùng bốn vó khỏe và đủ sức kéo xe, nhưng lịch sử đã chọn ngựa trở thành bạn đồng hành của con người, còn ngựa vằn thì không.

Ngựa vằn rất khó thuần hóa - Ảnh: MARYLAND ZOO

Khoa học cho thấy câu trả lời không nằm ở những sọc của ngựa vằn, mà ở sinh học hành vi, phản ứng stress và cả áp lực tiến hóa của đồng cỏ châu Phi.

Vì sao ngựa vằn vẫn... "bướng"?

Trong lịch sử, từng có những nỗ lực cưỡi ngựa vằn, huấn luyện ngựa vằn kéo xe, thậm chí lai tạo với ngựa. Nhưng ngựa vằn chưa bao giờ trở thành vật nuôi phổ biến như ngựa hay lừa.

Theo một bài tổng quan khoa học đăng trên tạp chí Animals (2024), thuần hóa là một quá trình lâu dài đòi hỏi nhiều điều kiện cùng hội tụ như loài đó phải chịu được việc bị bắt giữ, nuôi nhốt, tiếp xúc gần với con người và quan trọng nhất là có thể thích nghi qua nhiều thế hệ dưới sự chọn lọc của con người. 

Trong khi đó, ngựa vằn gặp trở ngại ở nhiều điểm trong chuỗi điều kiện này.

Một yếu tố then chốt được các nhà nghiên cứu nhấn mạnh là hiện tượng "tổn thương do stress khi bị bắt giữ". Đây là tình trạng một số động vật móng guốc có thể bị suy sụp sinh lý nghiêm trọng khi bị rượt đuổi hoặc nhốt giữ. 

Theo bài viết trên trang Animals, mức độ dễ bị tổn thương do stress là yếu tố có ảnh hưởng tiêu cực rõ rệt đến khả năng thuần hóa. Ngựa vằn, vốn tiến hóa trong môi trường có mật độ thú săn mồi cao ở châu Phi, giữ lại phản ứng cảnh giác và hoảng loạn rất mạnh.

Đó là bởi trong môi trường mà sư tử, linh cẩu hay báo luôn rình rập, những con phản ứng nhanh, giật mình mạnh và bỏ chạy tức thì có khả năng sống sót cao hơn. 

Ngựa vằn đã tiến hóa để có thể thích ứng với cuộc sống hoang dã - Ảnh: LA ZOO

Qua hàng chục nghìn năm, đặc điểm này trở thành lợi thế tiến hóa, đặc biệt đúng với trường hợp của ngựa vằn. 

Nhưng chính lợi thế ấy lại là rào cản đối với quá trình thuần hóa, vốn đòi hỏi động vật có thể chịu đựng việc bị kiểm soát và tiếp xúc lặp đi lặp lại với con người.

Chương trình Nature của PBS khi nói về tập tính ngựa vằn từng mô tả chúng là loài rất "căng thẳng", dễ phản ứng mạnh khi bị tiếp cận gần. Không ít trường hợp chấn thương do ngựa vằn cắn hoặc đá đã được ghi nhận trong thực tế.

Tuy nhiên vấn đề không chỉ nằm ở "tính khí". Thuần hóa không đồng nghĩa với việc một con ngựa vằn có thể được dạy dỗ. 

Một con ngựa vằn riêng lẻ có thể được huấn luyện phần nào, nhưng để trở thành vật nuôi phổ biến, loài đó phải cho phép con người nhân giống và chọn lọc qua nhiều thế hệ mà không gây rủi ro quá lớn.

Giới nghiên cứu phân biệt rõ giữa "thuần tính" (một con trở nên hiền hơn) và "thuần hóa" (cả quần thể thay đổi về mặt di truyền và hành vi qua nhiều thế hệ). Theo tổng quan trên Animals, ngựa vằn không đáp ứng tốt những điều kiện nền tảng để tiến trình thuần hóa ở quy mô quần thể diễn ra bền vững.

Ngựa có thật sự thông minh?


Loài ngựa có khả năng ghi nhớ biểu cảm của con người - Ảnh: SCIENCE FOR HORSE LOVERS

Nếu ngựa vằn cho thấy giới hạn của thuần hóa, thì ngựa - loài đã đồng hành với con người hàng nghìn năm - lại ngày càng khiến các nhà khoa học nhìn nhận lại trí tuệ của chúng.

Năm 2018, một nghiên cứu công bố trên tạp chí Current Biology cho thấy ngựa có thể ghi nhớ biểu cảm cảm xúc của con người. 

Trong thí nghiệm, ngựa được cho xem hình ảnh khuôn mặt người với biểu cảm vui hoặc giận. Nhiều giờ sau, khi gặp lại đúng người đó trong trạng thái trung tính, ngựa vẫn thể hiện phản ứng khác nhau tùy theo ký ức cảm xúc trước đó. 

Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng thiết kế thí nghiệm được kiểm soát để tránh việc con người vô tình phát tín hiệu cho ngựa.

Một nghiên cứu khác đăng trên Frontiers in Psychology năm 2020 tiếp tục đặt câu hỏi ngựa có thực sự nhận diện khuôn mặt người hay chỉ dựa vào những chi tiết như màu tóc, dáng người? 

Kết quả cho thấy ngựa có khả năng xử lý khuôn mặt theo hướng tổng thể, tức không chỉ dựa vào một chi tiết đơn lẻ mà dựa vào cấu trúc chung của khuôn mặt.

Quá trình thuần hóa ngựa có thể liên quan nhiều đến khả năng tương tác xã hội của chúng - Ảnh: MASHABLE

Gần đây hơn, nghiên cứu công bố trên Applied Animal Behaviour Science (2024) cho thấy ngựa có thể học cách phân biệt các biểu cảm cảm xúc khác nhau của con người thông qua huấn luyện có thưởng. 

Theo nhóm nghiên cứu, ngựa được huấn luyện trong môi trường kiểm soát với hình ảnh khuôn mặt thể hiện các cảm xúc khác nhau và được thưởng khi chọn đúng theo quy tắc. Khi thay đổi người trong ảnh hoặc góc chụp, ngựa vẫn duy trì khả năng phân loại. 

Ở góc độ sinh học hành vi, những phát hiện này gợi ý rằng ngựa có hệ thống xử lý tín hiệu xã hội phát triển tương đối cao. Là loài sống bầy đàn, ngựa vốn phải nhạy cảm với trạng thái cảm xúc của những con khác để duy trì trật tự trong nhóm. 

Quá trình thuần hóa kéo dài hàng nghìn năm có thể đã củng cố thêm khả năng đọc và phản ứng với tín hiệu của con người. 

Theo các nhà nghiên cứu, đây là ví dụ điển hình cho thấy thuần hóa không dừng lại ở ngoại hình hay sức kéo, mà còn liên quan đến biến đổi về hành vi và khả năng tương tác xã hội.

Bò Nhật Bản được sơn sọc như ngựa vằn để chống côn trùng hút máu

Tờ Mainichi đưa tin, người chăn nuôi bò trên khắp tỉnh Yamagata (Nhật Bản) gần đây đã sử dụng thuốc tẩy nhẹ hoặc phun sơn lên da để tạo cho bò những sọc đen, trắng trông như ngựa vằn.

Một con bò có sọc như ngựa vằn ở Nhật Bản. Ảnh: newsdig.tbs.co.jp

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học trong tỉnh, ruồi sẽ ít bâu vào những con  có sọc và thường bâu vào bò có bộ lông bình thường.

Giống bò đen Nhật Bản là một trong bốn giống bò cho thịt bò wagyu cao cấp nổi tiếng ở xứ sở mặt trời mọc. Tuy nhiên, từ lâu, nông dân đã thường phàn nàn rằng đàn bò dễ bị các loài côn trùng như ruồi hoặc ruồi trâu hút máu. Điều này làm bò căng thẳng, khó chịu và đau đớn, thậm chí còn ảnh hưởng đến tỷ lệ sinh sản của cả đàn bò.

Một quan chức bộ phận xúc tiến nông nghiệp của tỉnh cho biết: "Nhiều nông dân đã không muốn thả bò trên đất nông nghiệp vì lo chúng sẽ bị đám ruồi trâu tấn công. Nhưng giờ đây, chúng ta có thể yên tâm hơn khi bò được thư giãn và phát triển khỏe mạnh nếu có vạch sọc trên người".

Các nhà khoa học đã tiến hành quan sát và theo dõi hiệu quả của giải pháp sơn sọc khác màu bằng cách thả những con bò được sơn sọc trên cánh đồng cùng những con bò bình thường.

Sau khi đếm số lần bò vẫy đuôi, lắc đầu hoặc giậm móng để xua đuổi và ngăn ruồi, họ phát hiện ra rằng bò bình thường phản ứng đến 16 lần mỗi phút, còn những con có sọc nhân tạo thì chỉ phản ứng 5 lần trong cùng thời gian.

Mặc dù các nhà nghiên cứu không giải thích tại sao ruồi ít bâu vào những con bò có sọc, nhưng phương pháp này đã được phổ biến cho nông dân.

Một nông dân nhận xét rằng có thể thấy rõ khác biệt ở đàn bò và ông cũng rất vui khi thấy những con bò có bộ lông bình thường không xa lánh những đồng loại có sọc./.

Thông Tấn Xã Việt Nam

Thanh kiếm 8 cạnh 3.400 năm tuổi hé lộ bí mật độc đáo

GD&TĐ - Các nhà khảo cổ Đức phát hiện thanh kiếm Đồ đồng 8 cạnh hiếm, hé lộ kỹ thuật rèn tinh xảo và bí mật tạo màu độc đáo.


Thanh kiếm được khai quật tại Nördlingen.

Nhờ công nghệ hiện đại, họ đã tìm ra cách những thợ rèn cổ xưa tạo nên món vũ khí đặc biệt này, mở ra góc nhìn mới về kỹ thuật luyện kim thời bấy giờ.

Phát hiện gây chấn động

Năm 2023, các nhà khảo cổ đã tìm thấy thanh kiếm Achtkantschwert - loại kiếm tám cạnh đặc trưng của miền nam nước Đức trong một ngôi mộ cổ tại Nördlingen.

Khi được đưa ra khỏi lòng đất, thanh kiếm vẫn sáng lấp lánh, gợi nhớ đến truyền thuyết về thanh kiếm của vua Arthur. Sau đó, hiện vật được vận chuyển từ Bavaria đến Berlin trong hộp bảo vệ đặc biệt để nghiên cứu.

Nhóm chuyên gia muốn tìm hiểu cách phần chuôi được gắn với lưỡi kiếm và vật liệu nào được sử dụng trong các rãnh trang trí.

“Việc chế tác loại kiếm này rất phức tạp. Chúng tôi muốn biết cách chuôi được gắn vào lưỡi và cách tạo nên hoa văn đặc trưng,” nhà nghiên cứu Beate Herbold cho biết.

Theo ông thách thức lớn nhất là làm sao khám phá bí mật bên trong mà không làm hỏng hiện vật.

Công nghệ hiện đại hé lộ bí mật

Để nghiên cứu, các nhà khoa học tại Berlin đã sử dụng nguồn bức xạ synchrotron BESSY II cùng phương pháp chụp cắt lớp vi tính. Hình ảnh 3 chiều cho thấy lưỡi kiếm kéo dài vào chuôi dưới dạng một phần tang, được cố định bằng đinh tán.

Công nghệ này cũng hé lộ chi tiết tinh xảo ở phần chóp chuôi: Trong các rãnh trang trí không phải là thiếc như giả định ban đầu, mà là những sợi dây đồng được khảm vào. Điều này chứng tỏ tay nghề thợ rèn thời kỳ đó đã đạt trình độ bậc thầy, khi tạo được sự tương phản giữa màu đỏ của đồng và màu vàng của đồng thiếc.

Nhà nghiên cứu Herbold nhấn mạnh: “Đây là một bất ngờ, cho thấy kỹ thuật chế tác đã rất phát triển từ thời đó.”

Ngoài ra, họ còn phát hiện dấu vết của thiếc và chì, có thể từ hợp kim đồng. Nhà nghiên cứu Johann-Friedrich Tolksdorf bổ sung rằng, để làm nổi bật màu đỏ của đồng trên nền vàng, thợ rèn có thể đã dùng phương pháp tạo lớp gỉ hóa học, chẳng hạn bằng cách ngâm trong nước tiểu, để làm sẫm màu bề mặt.

Các chuyên gia tin rằng việc sử dụng lớp patina đã giúp tạo nên hiệu ứng thị giác “đỏ và vàng” đặc trưng, khiến thanh kiếm trở thành một tác phẩm nghệ thuật thực sự.


Chuôi kiếm được chế tác tinh xảo.

Hành trình nghiên cứu tiếp tục

Dù đã có nhiều phát hiện quan trọng, quá trình nghiên cứu vẫn chưa kết thúc. Các nhà khảo cổ kỳ vọng sẽ hiểu rõ hơn về những xưởng chế tác vũ khí thời kỳ Đồ đồng ở miền nam nước Đức và các kỹ thuật luyện kim đã được áp dụng.

Giáo sư Mathias Pfeil, Tổng Giám đốc Bảo tồn Di tích của BLfD (Văn phòng Bang Bavaria về Bảo tồn Di tích), nhận định: “Nhờ các phương pháp đo lường hiện đại, chúng ta có thể hiểu cách kim loại được chế tác cách đây gần 3,5 thiên niên kỷ, với độ chính xác đáng kinh ngạc và kỹ năng vượt trội.”

Thanh kiếm Achtkantschwert không chỉ là một hiện vật khảo cổ, mà còn là minh chứng sống động cho trình độ thủ công tinh xảo của con người thời kỳ Đồ đồng, mở ra cánh cửa khám phá về lịch sử và văn hóa châu Âu cổ đại.


Theo IE

Vì sao 'Mã đáo thành công' thường đi cùng hình ảnh 8 chú ngựa?

Không chỉ là một câu chúc đầu năm quen thuộc, 'Mã đáo thành công' còn gắn liền với hình tượng 8 chú ngựa phi nước đại trong tranh phong thủy.

ranh Bát Mã thường được treo dịp đầu năm, khai trương với lời chúc "Mã đáo thành công" - Ảnh: Sina

Những ngày đầu năm, trên mạng xã hội hay trong các dịp khai trương, tân gia, hình ảnh 8 chú ngựa tung vó cùng lời chúc "Mã đáo thành công" xuất hiện dày đặc. Ít ai để ý rằng phía sau cụm từ quen thuộc ấy là một lớp nghĩa văn hóa được tích lũy qua nhiều thế kỷ.

"Mã đáo thành công" là gì?

"Mã đáo thành công" theo các từ điển thành ngữ tiếng Trung và nhiều trang nghiên cứu văn hóa Hoa ngữ, cụm này có nghĩa đen là "ngựa đến nơi là thành công", hàm ý chúc ai đó đạt kết quả thuận lợi ngay khi bắt đầu.

Trong xã hội cổ đại, ngựa là phương tiện di chuyển chủ yếu trong chiến trận và giao thương đường dài - Ảnh: Shen Yun

Người xưa quan niệm đoàn quân ra trận nếu "mã đáo", tức ngựa trở về, là chủ nhân đã hoàn thành nhiệm vụ và trở về bình an. Theo thời gian, cụm từ này được dùng rộng rãi như một lời chúc thành công nhanh chóng trong thi cử, kinh doanh hay khởi sự đầu năm.

Một số học viện văn hóa Trung Hoa tại châu Âu khi giới thiệu về thành ngữ này cũng giải thích đây là lời chúc phổ biến vào dịp năm mới, thể hiện mong muốn "thành công đến ngay tức thì".

Vì sao lại là 8 con ngựa?

Hình ảnh 8 con ngựa (Bát Mã) không xuất phát trực tiếp từ thành ngữ "Mã đáo thành công", mà liên quan đến điển tích về Chu Mục Vương thời Tây Chu, người được cho là sở hữu tám tuấn mã nổi tiếng. Câu chuyện này được ghi lại trong thư tịch cổ và trở thành đề tài quen thuộc trong hội họa truyền thống Trung Hoa.

Đến thế kỷ 20, họa sĩ Từ Bi Hồng góp phần phổ biến mạnh mẽ mô típ "Bát Mã" qua các bức tranh thủy mặc vẽ ngựa đang phi nước đại.

Báo South China Morning Post từng nhận định tranh ngựa của ông tượng trưng cho sức mạnh, sinh khí và khát vọng vươn lên trong nghệ thuật Trung Quốc hiện đại. Từ đó hình tượng tám con ngựa ngày càng được ưa chuộng trong trang trí và quà tặng mang ý nghĩa may mắn.

Tác phẩm vẽ ngựa của họa sĩ Từ Bi Hồng góp phần phổ biến mô típ "Bát Mã" trong mỹ thuật Trung Quốc hiện đại - Ảnh: CGTN

Một yếu tố khác khiến hình ảnh "Bát Mã" được ưa chuộng là quan niệm về số 8 trong văn hóa Trung Hoa. Số 8 có cách phát âm gần với chữ mang nghĩa "phát đạt". Nhiều nghiên cứu về văn hóa số học ghi nhận niềm tin này ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống hiện đại, từ lựa chọn ngày khai trương đến biển số xe.

Tuy nhiên ý nghĩa "phát tài, phát lộc" gắn với số 8 là quan niệm dân gian và phong thủy phổ biến, không phải nội dung trực tiếp của thành ngữ "Mã đáo thành công".

Chi tiết một con ngựa ngoảnh đầu

Trong nhiều bức tranh "Bát Mã Truy Phong", có thể thấy một chú ngựa quay đầu giữa đàn ngựa đang phi về phía trước. Theo phân tích mỹ thuật, đây chủ yếu là thủ pháp bố cục nhằm tạo nhịp điệu và chiều sâu không gian, giúp bức tranh sinh động hơn.

Những cách hiểu như "nhắc nhau cùng tiến bước" hay "không ai bị bỏ lại phía sau" là diễn giải phổ biến trong đời sống hiện đại.


Các cách lý giải mang ý nghĩa "cùng tiến bước" hay "không ai bị bỏ lại phía sau" xuất hiện phổ biến trong quan niệm đương đại - Ảnh: Wikimedia Commons

Sự kết hợp giữa thành ngữ "Mã đáo thành công" và hình ảnh 8 chú ngựa vì vậy là kết quả của nhiều lớp văn hóa: từ thành ngữ cổ chúc thành công nhanh chóng, điển tích "Bát Mã" trong truyền thuyết, đến ảnh hưởng của hội họa hiện đại và quan niệm may mắn về con số 8.

Mai Nguyệt