a

THƯƠNG CHÚC THẦY CÔ VÀ ANH CHỊ EM ĐỒNG MÔN TRƯỜNG HOÀNG DIỆU MỘT NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 AN LÀNH VÀ HẠNH PHÚC

b

b
CHÚC QUÝ THẦY CÔ VÀ ĐỒNG MÔN HOÀNG DIỆU NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 VẠN SỰ NHƯ Ý - AN KHANG THỊNH VƯỢNG.

Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2026

Vì sao giếng ở Tử Cấm Thành chứa đầy châu báu nhưng không ai dám lấy?

 Bí ẩn Tử Cấm Thành vẫn còn có vô vàn, và sự thật về những chiếc giếng chứa đầy châu báu nhưng không ai dám lấy là điều gây rùng mình hơn cả.

Vì sao giếng ở Tử Cấm Thành chứa đầy châu báu nhưng không ai dám lấy?

Tử Cấm Thành nằm ở trung tâm của Bắc Kinh, Trung Quốc. Năm 1402, sau khi chiếm được Nam Kinh và lên ngôi, hoàng đế Trung Quốc Minh Thành Tổ đã dời đô về Bắc Kinh và ra lệnh xây dựng một thành phố cho "thiên tử" - nơi ở dành cho các hoàng đế từ các triều đại khác nhau. Hàng triệu người lao động đã làm việc trong 14 năm để xây dựng công trình nhằm thể hiện sự quyền lực này.

Năm 1421, hoàng đế đã cư trú trong quần thể cung điện và biến Bắc Kinh thành thủ đô mới của Trung Quốc. Tổng cộng 24 hoàng đế của Trung Quốc đã ngự ở Tử Cấm Thành từ giữa đời nhà Minh đến cuối đời nhà Thanh.


Ảnh minh họa

Đây là một trong những quần thể cung điện hoàng gia lớn nhất thế giới, với tổng diện tích khoảng 720.000 m², trong đó diện tích xây dựng khoảng 150.000 m². Quần thể gồm hơn 70 khu cung điện lớn nhỏ, khoảng 9.000 gian phòng và ít nhất 70 giếng cổ, chưa kể những giếng đã bị lấp hoặc hư hỏng theo thời gian.

Tồn tại hơn 600 năm, Tử Cấm Thành vẫn còn nhiều điều bí ẩn. Trong đó, những chiếc giếng cổ là chủ đề được nhiều người quan tâm. Dân gian truyền rằng dưới đáy giếng có thể chứa nhiều châu báu, nhưng đến nay hầu như chưa ai khai quật hay phá giếng để kiểm chứng, kể cả các nhà khảo cổ. Vì sao lại như vậy?

Dù số lượng giếng không ít, nhưng vào cuối triều Thanh, người trong cung gần như không dùng nước giếng cho sinh hoạt. Nước ăn uống, tưới tiêu và phòng hỏa đều được chuyển từ bên ngoài vào. Nguyên nhân là do người trong cung nghi ngờ chất lượng nước, lo ngại bị nhiễm bẩn hoặc nhiễm độc. Bên cạnh đó, có nhiều lời đồn cho rằng không ít người từng tự vẫn hoặc bị sát hại rồi ném xuống giếng.

Năm 1900, khi Liên quân 8 nước tiến vào Bắc Kinh, Tử Cấm Thành rơi vào cảnh hỗn loạn. Nhiều cung nữ và phi tần vì lo sợ bị làm nhục đã gieo mình xuống giếng tự vẫn. Một giả thuyết khác cho rằng trước khi rời khỏi Tử Cấm Thành, Từ Hi Thái Hậu đã ra lệnh ném Trân Phi – phi tần được vua Quang Tự sủng ái – xuống giếng. Chiếc giếng này sau đó được gọi là “Giếng Trân Phi”.

Ảnh minh họa

Ngoài những câu chuyện rùng rợn, còn có quan điểm cho rằng các giếng trong Tử Cấm Thành có thể chứa nhiều bảo vật. Theo một giả thuyết, trước khi rời khỏi cung vào năm 1900, Từ Hi Thái Hậu đã cho ném xuống giếng nhiều của cải, châu báu không kịp mang theo.

Một giả thuyết khác liên quan đến đời sống trong cung. Tử Cấm Thành từng là nơi sinh sống và làm việc của hàng nghìn người, trong đó có hoạn quan và cung nữ. Nhiều đồ vật quý thuộc về hoàng gia, nhưng không phải lúc nào cũng được hoàng đế quản lý chặt chẽ. Có ý kiến cho rằng một số hoạn quan, cung nữ đã trộm đồ trong cung, nếu bị phát hiện có thể đã vội vàng phi tang bằng cách ném xuống giếng.


Ảnh minh họa

Điều thú vị những chiếc giếng trong Tử Cấm Thành được thiết kế khá đặc biệt với miệng giếng rất nhỏ. Vào thời đại gần đây, nó còn được cải tạo lại để trở nên nhỏ hơn nữa nhằm đảm bảo an toàn. Chính vì vậy, khi dùng máy móc can thiệp trục vớt thì rất dễ phải phá hủy đi di tích hàng trăm năm tuổi. Và ngay cả khi được trục với lên rồi, các bảo vật cũng chưa chắc còn giữ được nguyên hiện trạng như ban đầu vì thời gian dài nằm dưới giếng sâu tăm tối. Vậy nên sau tất cả, người ta quyết định bảo tồn nguyên vẹn những giếng cổ trong Tử Cấm Thành và để châu báu - chứng nhân lịch sử mãi nằm yên nơi nó vốn thuộc về.

Theo Người đưa tin

Hố đen tí hon có thể hé lộ chiều không gian thứ năm

Nếu một chiều không gian ẩn thực sự tồn tại, những hố đen hình thành ngay sau Big Bang có thể là manh mối giúp con người tìm kiếm nó.

Con người quen với một vũ trụ có ba chiều không gian: dài, rộng và cao. Cùng với thời gian, chúng tạo nên không-thời gian bốn chiều mà chúng ta đang sống.

Nhưng một số mô hình vật lý cho rằng vũ trụ có thể còn một chiều không gian khác mà con người không thể trực tiếp nhìn thấy hay bước vào. Trong một nghiên cứu mới, nhà vật lý Luis Anchordoqui tại Lehman College cùng các cộng sự cho rằng những hố đen cực nhỏ ra đời sau Big Bang có thể chịu ảnh hưởng của chiều không gian ẩn này.

Nếu giả thuyết đúng, chúng thậm chí có thể trở thành một cách để tìm kiếm dấu vết của chiều không gian thứ năm.


Minh họa một hố đen phóng luồng vật chất năng lượng cao vào không gian. Ảnh: DESY/Science Communication Lab.

Những hố đen quen thuộc thường hình thành khi các ngôi sao lớn cạn nhiên liệu và sụp đổ. Tuy nhiên, các nhà vật lý từ lâu còn đưa ra giả thuyết về một nhóm khác gọi là hố đen nguyên thủy.

Hố đen nguyên thủy được cho là đã xuất hiện ngay sau Big Bang. Khi đó, vật chất trong vũ trụ phân bố chưa đồng đều. Những vùng tập trung quá nhiều vật chất có thể co lại dưới tác động của lực hấp dẫn và hình thành các hố đen rất nhỏ.

Cho đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa tìm thấy bằng chứng chắc chắn về sự tồn tại của chúng. Dù vậy, hố đen nguyên thủy vẫn được quan tâm vì có thể mang theo dấu vết của vũ trụ thuở sơ khai, đồng thời là một trong những giả thuyết được đưa ra để giải thích vật chất tối.


Minh họa lực hấp dẫn có thể lan sang chiều không gian bổ sung. Ảnh: Max Planck Institute for Astrophysics.

Theo mô hình mà nhóm nghiên cứu sử dụng, chiều không gian thứ năm nếu tồn tại chỉ có kích thước khoảng một micromet, tức một phần triệu mét. Vật chất thông thường không thể đi vào đó, nhưng lực hấp dẫn có thể vượt ra ngoài không-thời gian mà chúng ta đang sống.

Nhóm của Anchordoqui xem xét hai cách hố đen nguyên thủy có thể ra đời sau Big Bang. Một khả năng là chúng hình thành khi vũ trụ nguội đi rất nhanh. Trong quá trình này, một số vùng trở nên đặc hơn xung quanh và sụp đổ thành hố đen. Các tính toán cho thấy nếu chiều không gian thứ năm tồn tại, những hố đen nhỏ như vậy khó duy trì cấu trúc bốn chiều và sẽ chuyển sang dạng năm chiều.

Khả năng còn lại liên quan đến “dây vũ trụ”, những cấu trúc giả thuyết có thể đã xuất hiện trong vũ trụ sơ khai. Một số dây có thể cuộn thành vòng, co lại rồi sụp đổ thành hố đen. Theo tính toán của nhóm, trong trường hợp này, hố đen sẽ có cấu trúc năm chiều ngay từ khi ra đời.

Sự khác biệt này còn ảnh hưởng đến thời gian tồn tại của chúng. Theo lý thuyết của Stephen Hawking, hố đen mất dần năng lượng và khối lượng thông qua bức xạ Hawking, trong đó những hố đen nhỏ thường biến mất nhanh hơn. Nhưng nếu có năm chiều, quá trình này có thể diễn ra chậm hơn.

Nhờ vậy, một số hố đen nguyên thủy hình thành từ dây vũ trụ có thể tồn tại tới khoảng 13,8 tỷ năm, gần bằng tuổi của vũ trụ. Nếu các giả thuyết trên đúng, những hố đen ra đời ngay sau Big Bang có thể vẫn tồn tại cho tới ngày nay.

Nhóm nghiên cứu còn đặt ra khả năng một hố đen năm chiều đang ở giai đoạn cuối có thể liên quan đến hạt neutrino năng lượng cực cao từng được đài quan sát KM3NeT phát hiện. Tuy nhiên, đây mới chỉ là một cách giải thích và chưa có bằng chứng trực tiếp.

Bản thân hố đen nguyên thủy đến nay vẫn chưa được xác nhận, trong khi chiều không gian thứ năm cũng chỉ tồn tại trong các mô hình lý thuyết. Vì vậy, nghiên cứu không chứng minh rằng vũ trụ thực sự có thêm một chiều ẩn. Nó cho thấy nếu chiều này tồn tại, những hố đen nhỏ ra đời từ thuở sơ khai có thể là một trong những nơi để tìm kiếm dấu vết của nó.

Science Alert

Trong tang lễ Từ Hi Thái hậu, 3 chuyện kỳ lạ đã xảy ra: Điều cuối đến nay vẫn chưa thể lý giải được

Tang lễ của bà được coi là một trong những tang lễ hoành tráng, tốn kém bậc nhất thế kỷ 20, kéo dài 5 ngày 5 đêm với những quy chế không kém đám tang dành cho Hoàng đế.

Hành trình cuối cùng của Từ Hi Thái hậu từ lâu đã trở thành một trong những giai thoại tốn nhiều giấy mực nhất của lịch sử phong kiến Trung Hoa, khiến hậu thế bàn tán không dứt dù hơn một thế kỷ đã trôi qua.

Dù người thời nay đã có khoa học tiên tiến để giải thích các hiện tượng lạ thời xưa, nhưng vẫn chưa thể giải mã hết mọi bí ẩn xung quanh nhân vật quyền lực này.

Từ Hi Thái hậu sinh năm 1835 và trở thành vợ lẽ của Hoàng đế Hàm Phong vào năm 1852. Sau khi con trai của bà là Hoàng đế Đồng Trị lên ngôi, bà trở thành thái hậu và đã giành lấy quyền lực thực tế tối cao trong thời đại cuối nhà Thanh, kéo dài suốt nửa thế kỷ. Theo ghi chép lịch sử, Từ Hi là một người phụ nữ vô cùng xa hoa, lãng phí và có nhiều nhận định trái chiều về vai trò của bà trong lịch sử. Cho đến nay, sau hơn 100 năm qua đời, nhân vật này vẫn là đề tài gây tranh luận không dứt.


Ảnh phục chế thời trẻ của Từ Hi

Từ Hi Thái hậu băng hà năm 1908. Tang lễ của bà được coi là một trong những tang lễ hoành tráng, tốn kém bậc nhất thế kỷ 20, kéo dài 5 ngày 5 đêm với những quy chế không kém đám tang dành cho Hoàng đế.

Người Trung Quốc xưa vô cùng coi trọng việc an táng, cần phải suy xét đến nhiều yếu tố tâm linh và phong thủy, đối với vua chúa thì quy trình này càng phức tạp. Vì thế mà mãi đến năm 1909, Từ Hi mới chính thức được an táng. Trong thời gian Từ Hi Thái hậu qua đời và được chôn cất, đã có 3 điều kỳ lạ xảy ra, trở thành những giai thoại còn lưu truyền đến nay.

Điều đầu tiên là vào ngày an táng Từ Hi, trời vốn trong xanh nhưng khi quan tài được rước đến Sùng Văn Môn thì trời nổi giông, thời tiết thay đổi đột ngột, mưa bão ập đến. Khung cảnh này khiến những người khiêng quan tài phải giật mình, ai nấy đều sợ hãi và rùng mình. May mắn là sau đó mọi chuyện diễn ra suôn sẻ, mưa dần tạnh và quá trình rước linh cữu được hoàn thành theo kế hoạch. Sau này, các nhà khoa học đã xác minh chuyện thời tiết thay đổi đột ngột trong lúc đó là do thời tiết có đối lưu mạnh, thế nên mới xảy ra bão dữ dội bất ngờ.



Hình ảnh trong tang lễ Từ Hi Thái hậu

Câu chuyện thứ hai xảy ra cũng có tính chất rùng rợn khiến người thời xưa phải suy đoán. Sau cơn mưa, không hiểu vì lý do gì, chất lỏng màu đỏ đột nhiên chảy ra từ quan tài Từ Hi Thái hậu.

Mọi người khi nhìn thấy đều hoảng sợ, sợ hãi đến mức đứng yên tại chỗ và không dám rời đi. Vốn dĩ, thi thể của Từ Hi đã được đặt trong cung một năm, làm sao có thể có máu chảy ra? Nguyên nhân giải thích cho hiện tượng này cũng đã được khoa học đời sau giải mã. Đó là do quan tài của Từ Hi đã được để hơn một năm mới an táng nên bên trong có chất liệu chống ăn mòn, dẫu vậy nó vẫn không thể ngăn được sự phân hủy của thi thể. Tương truyền vào ngày an táng Thái hậu, trong quá trình rước ai cũng ngửi thấy mùi hôi thối vì quan tài đã để quá lâu không chôn cất.

Thế nhưng còn một câu chuyện nữa mà đến giờ các nhà khoa học vẫn chưa thể lý giải. Chẳng bao lâu sau khi đến Đông Lăng nhà Thanh, các thái giám khiêng quan tài đều bỗng nhiên cảm thấy vai mình rất nặng, như thể cỗ quan tài đã tăng trọng lượng lên gấp nhiều lần đè lên họ. Một số người khiêng đã phải hét lên vì cảm xúc nặng nề dữ dội. Sau một lúc, hiện tượng này cũng đột nhiên chấm dứt.

Từ Hi Thái hậu đã được chôn cất trong lăng mộ phía đông của nhà Thanh, nhưng sau đó đã bị đối thủ chính trị là Tôn Điện Anh trộm mộ. Tất cả đồ vật an táng bên trong được cho là đều bị tiêu hủy và cướp bóc. Sau khi sống cả một đời xa hoa đầy tai tiếng, linh cữu của Từ Hi Thái hậu lại phải chịu một kết cục bi thảm như vậy.

Nguồn Sohu

Vị vua duy nhất trong 175 năm tồn tại của nhà Trần không mang họ Trần

Xuất thân là con của một kép hát, Dương Nhật Lễ không mang họ Trần nhưng vẫn được đưa lên ngôi sau khi Trần Dụ Tông qua đời.

Trong lịch sử nhà Trần, Dương Nhật Lễ là một trường hợp đặc biệt. Ông không phải người mang họ Trần nhưng vẫn được đưa lên ngai vàng và trở thành người đứng đầu Đại Việt trong thời gian ngắn, với niên hiệu Đại Định từ năm 1369 đến năm 1370. Sau khi bị phế, sử sách thường gọi ông là Hôn Đức công.

Câu chuyện về thân thế của Dương Nhật Lễ bắt đầu từ một gia đình kép hát. Cha ruột của ông là Dương Khương, một người thuộc phường trò. Mẹ ông là vợ Dương Khương, vốn là một đào nương có tài múa hát và nhan sắc. Bà thường đóng vai Tây Vương Mẫu trong tiết mục “Tây Vương Mẫu hiến bàn đào”, vì vậy được gọi là Vương Mẫu.

Khi ấy, Cung Túc vương Trần Nguyên Dục, anh ruột của Trần Dụ Tông và là con trưởng của Trần Minh Tông, đem lòng say mê người phụ nữ này. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, khi bà đang mang thai, Trần Nguyên Dục lấy bà làm vợ và sau khi đứa trẻ ra đời, ông nhận Dương Nhật Lễ là con mình. Vì vậy, dù mang họ Dương và có cha ruột là Dương Khương, Nhật Lễ vẫn được xem là con của Trần Nguyên Dục trong hoàng tộc nhà Trần.

Thân thế ấy trở thành vấn đề đặc biệt quan trọng nhiều năm sau, khi dòng chính nhà Trần rơi vào khủng hoảng kế vị. Trần Minh Tông có nhiều người con, trong đó Trần Nguyên Dục là con của chính hậu Lệ Thánh hoàng hậu, tức Hiến Từ Thái hậu về sau; Trần Hạo là Trần Dụ Tông. Sau khi Trần Dụ Tông qua đời, ông không có con trai để nối ngôi.

Năm 1369, Trần Dụ Tông qua đời sau nhiều năm sống xa hoa và không có con nối dõi. Trước khi mất, nhà vua để lại di chiếu truyền ngôi cho Dương Nhật Lễ. Trong tình thế ấy, Hiến Từ Thái hậu chấp thuận việc đưa Nhật Lễ lên ngôi. Theo ghi chép được dẫn lại từ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, các quan từng bàn đến việc đưa Trần Phủ, em của Trần Dụ Tông và sau này là Trần Nghệ Tông, lên ngôi. Tuy nhiên, Hiến Từ Thái hậu cho rằng Trần Nguyên Dục là con trưởng của dòng đích và đã mất sớm, nên Dương Nhật Lễ, người được Nguyên Dục nhận làm con, có thể kế vị. Cuối cùng, Dương Nhật Lễ được đón vào cung và lên ngôi, đặt niên hiệu Đại Định.

Việc lựa chọn Dương Nhật Lễ ban đầu vẫn được đặt trong khuôn khổ kế vị của hoàng tộc nhà Trần. Sau khi lên ngôi, ông truy tôn Trần Nguyên Dục và tiếp tục được nhìn nhận trong tư cách người kế vị thuộc dòng họ Trần trên danh nghĩa.

                   Dương Nhật Lễ không mang họ Trần nhưng vẫn được đưa lên ngôi (Ảnh minh họa)

Tuy nhiên, triều đại của Dương Nhật Lễ nhanh chóng rơi vào bất ổn. Theo sử liệu, sau khi lên ngôi, ông dành nhiều thời gian cho rượu chè, vui chơi và các trò giải trí, trong khi việc triều chính bị bỏ bê. Đáng chú ý hơn, Dương Nhật Lễ cho đón Dương Khương, cha ruột của mình, vào triều và có ý định khôi phục họ Dương. Chính ý định này khiến nhiều thành viên trong tôn thất nhà Trần lo ngại và bất bình. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia dẫn lại ghi chép của Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục cho biết thời điểm đó, Dương Nhật Lễ ngày càng xa rời việc triều chính và muốn đổi lại họ Dương.

Sự thay đổi ấy đặc biệt nhạy cảm trong bối cảnh quyền lực của nhà Trần đang đứng trước nhiều sức ép. Việc một người vốn được đưa lên ngôi nhờ quan hệ với dòng đích nay muốn công khai trở về họ Dương có nguy cơ phá vỡ cơ sở chính danh mà ông đang dựa vào để giữ ngai vàng.

Mâu thuẫn giữa Dương Nhật Lễ và tôn thất nhà Trần vì thế ngày càng gay gắt. Tháng 12/1369, khi biết Hiến Từ Thái hậu thường tỏ ý hối hận vì đã đưa mình lên ngôi, Dương Nhật Lễ sai người đầu độc giết bà. Từ đây, quan hệ giữa nhà vua và những người thuộc hoàng tộc nhà Trần gần như không còn khả năng hàn gắn.

Những người trong tôn thất sau đó bắt đầu tìm cách lật đổ Dương Nhật Lễ. Tháng 9/1370, Trần Nguyên Trác cùng con trai Trần Nguyên Tiết và hai người con của Thiên Ninh công chúa đem người trong tôn thất vào thành với ý định giết nhà vua. Dương Nhật Lễ phát hiện và trốn qua tường, nấp dưới cầu mới để tránh bị bắt. Khi nhóm người này không tìm thấy ông và rời đi, Dương Nhật Lễ trở lại cung điện rồi cho truy bắt những người chủ mưu. Trần Nguyên Trác cùng nhiều người khác bị giết.

Cuộc nổi dậy thất bại khiến phe chống Dương Nhật Lễ phải thay đổi cách thức. Trần Phủ, tức Cung Định vương và sau này là Trần Nghệ Tông, ban đầu không muốn trực tiếp tranh giành ngai vàng. Theo ghi chép lịch sử, Thiên Ninh công chúa đã khuyên ông đứng lên bảo vệ cơ nghiệp của tổ tiên. Sau đó, Trần Phủ cùng các thành viên trong tôn thất tìm cách tập hợp lực lượng ở vùng Thanh Hóa để chuẩn bị tiến đánh kinh thành.

Một nhân vật có vai trò đáng chú ý trong quá trình này là Trần Ngô Lang, người được Dương Nhật Lễ tin dùng nhưng lại bí mật đứng về phía Trần Phủ. Khi được cử đưa quân đi đàn áp lực lượng chống đối, Ngô Lang tìm cách khiến quân sĩ không trở về triều mà theo phe Trần Phủ. Nhờ đó, lực lượng của Trần Phủ ngày càng mạnh lên.

Tổng hợp (VTC News, Dân Việt)

Vị hoàng hậu duy nhất trong lịch sử Việt Nam cầm quân đi đánh giặc


Lịch sử Việt Nam từng ghi dấu nhiều nữ tướng, nhưng có một trường hợp đặc biệt đã chỉ huy quân đội chống quân Đường trên sông Tô Lịch.

Bà Phạm Thị Uyển được cho là quê ở Nam Xương, vùng đất nay thuộc Hà Nội. Theo thần tích đình Hòa Mục và các tư liệu được lưu truyền về bà, cha bà là Phạm Huyên, mẹ là Phùng Thị Thảo, em gái của Phùng Hạp Khanh - người sau này trở thành cha của Phùng Hưng. Bà là chị cả trong gia đình có ba người con; hai người em trai là Phạm Miện và Phạm Huy cũng được nhắc đến với vai trò võ tướng trong cuộc khởi nghĩa của Phùng Hưng.

Câu chuyện về cuộc đời Phạm Thị Uyển gắn liền với Mai Thúc Loan, người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hoan Châu chống ách đô hộ của nhà Đường vào đầu thế kỷ VIII. Sau khi nghĩa quân giành được những thắng lợi quan trọng, Mai Thúc Loan lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu Mai Hắc Đế. Theo truyền thuyết được lưu truyền, Phạm Thị Uyển được gả cho Mai Thúc Loan và trở thành hoàng hậu.

Không chỉ giữ vị trí trong hoàng cung, Phạm Thị Uyển còn được mô tả là người am hiểu binh thư, có khả năng bàn việc quân và cùng chồng tham gia chống giặc. Bà cùng hoàng tử Mai Bảo Sơn từng trực tiếp chỉ đạo nghĩa quân chiến đấu với quân của tướng Đường Dương Tư Húc trên sông Tô Lịch.

Năm 722, nhà Đường đưa quân trở lại đàn áp cuộc khởi nghĩa. Các nguồn tư liệu ghi nhận quân Đường tiến vào Tống Bình, trong khi lực lượng của Mai Hắc Đế phải chống đỡ trước một đội quân đông và mạnh hơn. Trong cuộc chiến ấy, Phạm Thị Uyển được ghi nhận đã chỉ huy một cánh quân trên sông Tô Lịch.

Bà Phạm Thị Uyển được cho là hoàng hậu duy nhất trong lịch sử nước ta từng cầm quân đánh giặc (Ảnh minh hoạ)

Theo tư liệu của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, thời điểm đó sông Tô Lịch còn là một nhánh của sông Hồng và giữ vai trò quan trọng về giao thông đường thủy. Phạm Thị Uyển cùng nghĩa quân tổ chức chống trả quân Đường tại khu vực này. Tuy nhiên, trước ưu thế về lực lượng của đối phương, quân của bà dần rơi vào thế bất lợi. Khi trận chiến không thể cứu vãn, Phạm Thị Uyển được các tư liệu và thần tích kể rằng đã nhảy xuống sông Tô Lịch tự vẫn thay vì rơi vào tay quân địch.

Sau đó, theo truyền thuyết địa phương, thi thể bà trôi về khu vực trang Nhân Mục, nay là Hòa Mục, được người dân vớt lên an táng và lập miếu thờ. Ngôi miếu về sau trở thành đền Dục Anh, hiện nằm trên đường Nguyễn Ngọc Vũ, Hà Nội. Hai người em trai của bà cũng được người dân thờ phụng cùng tại khu vực này.

Câu chuyện về Phạm Thị Uyển không chỉ dừng lại ở cuộc chiến với quân Đường. Theo truyền thuyết được lưu truyền tại đền Dục Anh, nhiều thế kỷ sau, Lê Lợi từng nghỉ lại tại miếu Dục Anh trong thời kỳ khởi nghĩa Lam Sơn và được thần báo mộng phù trợ. Sau khi đánh đuổi quân Minh, ông được cho là đã phong tặng danh hiệu cho Phạm Thị Uyển. Những chi tiết này thuộc hệ thống truyền thuyết, tín ngưỡng gắn với di tích và được lưu truyền qua nhiều đời.

Ngày nay, đền Dục Anh và đình Hòa Mục vẫn là những địa điểm gắn với việc thờ phụng Phạm Thị Uyển. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cũng xác nhận cụm di tích đền Dục Anh và đình Trong tại khu vực Hòa Mục là một trong những địa điểm lưu dấu câu chuyện về vị hoàng hậu này.

Tổng hợp (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Dân Việt)