Trong thời đại những chiến binh khoác áo giáp sắt thống trị chiến trường, một loại vũ khí đã ra đời với khả năng xé toạc những bộ giáp dày.
Loại vũ khí Trung cổ nào là khắc tinh của các hiệp sĩ mặc giáp sắt?
Thoạt nhìn, búa Lucerne trông giống một món dụng cụ rèn được gắn lên cán gỗ dài. Nhưng đây là vũ khí chiến đấu chuyên dụng, phổ biến trong lực lượng bộ binh của Liên minh Thụy Sĩ cũ từ cuối thế kỷ XV đến thế kỷ XVII. Những hiện vật còn lưu giữ cho thấy người thợ rèn châu Âu đã tìm cách giải quyết một bài toán hóc búa: làm thế nào để đối phó với đối thủ được bảo vệ bởi những tấm giáp sắt chắc chắn?
Điểm đặc biệt của búa Lucerne là phần đầu được thiết kế với nhiều bộ phận đảm nhiệm những chức năng khác nhau. Phía trên là một mũi nhọn dài để đâm; một bên là đầu búa thường có bốn chấu nhọn; phía đối diện là mỏ móc cong, sắc và cứng. Toàn bộ cụm đầu bằng thép được gắn vào một cán gỗ dài, giúp người sử dụng có tầm với đáng kể trong giao chiến.
Với một vũ khí thông thường, áo giáp có thể chặn lưỡi kiếm và làm giảm đáng kể khả năng gây thương tích. Búa Lucerne được phát triển để đối phó với thách thức đó bằng nhiều cách. Mũi nhọn có thể nhắm vào những khe hở giữa các tấm giáp; phần búa tạo ra lực va đập mạnh, có thể làm biến dạng giáp hoặc gây chấn thương dù thép không bị xuyên thủng; còn mỏ móc có thể được sử dụng để kéo, ghì hoặc làm mất thăng bằng đối thủ.
Tất nhiên, không nên hình dung rằng một cú đánh luôn dễ dàng xuyên thủng áo giáp thép. Giáp chất lượng cao vẫn có khả năng bảo vệ đáng kể và hiệu quả thực tế phụ thuộc vào kỹ thuật, góc tiếp xúc cùng cấu tạo của cả vũ khí lẫn áo giáp.
Tên gọi của vũ khí bắt nguồn từ thành phố Lucerne của Thụy Sĩ, nơi từng có nhiều hiện vật thuộc loại này trong kho vũ khí. Tuy nhiên, tên gọi “búa Lucerne” phổ biến ngày nay không nhất thiết là tên mà các chiến binh đương thời sử dụng. Đây là cách phân loại được hình thành về sau, khi giới sưu tầm và nghiên cứu vũ khí tìm cách phân biệt những kiểu búa chiến khác nhau.
Một hiện vật tại Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan ở New York, có niên đại khoảng năm 1520, dài khoảng 2,39 m và nặng chừng 2,66 kg. Kích thước ấy cho thấy đây không phải vũ khí nhỏ gọn để mang bên hông, mà là một loại trường binh cần sử dụng bằng hai tay.
Đến thế kỷ XVII, khi súng hỏa mai và các loại vũ khí mới ngày càng thay đổi chiến tranh châu Âu, vai trò chiến đấu của những vũ khí cán dài như búa Lucerne dần thu hẹp. Dẫu vậy, chúng vẫn xuất hiện trong kho vũ khí và nhiệm vụ nghi lễ, canh gác tại một số nơi.
Ngày nay, búa Lucerne là minh chứng thú vị cho sự sáng tạo của thợ rèn và binh sĩ thời kỳ áo giáp phát triển cực thịnh. Nó không đơn thuần là một chiếc búa gắn thêm mũi nhọn, mà là sản phẩm của cuộc chạy đua giữa khả năng phòng thủ và sức công phá - nơi mỗi chi tiết đều phản ánh nỗ lực tìm ra cách vượt qua lớp thép tưởng chừng bất khả xâm phạm.
Theo: Theo Báo Kiến Thức
Bí ẩn những đỉnh núi từng cao hơn cả Everest
Những dấu tích địa chất cho thấy Trái Đất từng có các dãy núi khổng lồ, nhưng liệu đỉnh núi nào trong số đó cao hơn Everest vẫn là bí ẩn
Với độ cao 8.849 m so với mực nước biển, Everest hiện là đỉnh núi cao nhất thế giới. Tuy nhiên, trong hàng tỷ năm lịch sử Trái Đất, những vụ va chạm giữa các mảng kiến tạo từng tạo nên nhiều hệ thống núi đồ sộ.
Theo Live Science, một số dãy núi có thể sở hữu những đỉnh cao tương đương, thậm chí vượt Everest ngày nay.
Vận động viên leo núi trên hành trình chinh phục đỉnh Everest. (Ảnh: Getty Images)
Các nhà địa chất chưa có đủ dữ liệu để xác định chính xác ngọn núi cao nhất cách đây hàng trăm triệu năm.
Dù vậy, những dấu tích còn sót lại trong vỏ Trái Đất có thể hé lộ quy mô các dãy núi cổ đại. Khi các mảng kiến tạo va chạm, một phần vỏ lục địa bị đẩy lên tạo thành núi, trong khi phần khác bị ép sâu xuống dưới bề mặt.
Alan Collins và Ziyi Zhu, các nhà địa chất học Australia, ví núi như tảng băng trôi, bởi phần nhô lên chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với toàn bộ cấu trúc bên dưới.
Chẳng hạn, lớp bên dưới Himalaya có thể kéo dài xuống độ sâu 80 km. Trong khi đó, Everest chỉ cao khoảng 9 km, tương đương 14% tổng chiều dày của dãy núi. Các nhà khoa học có thể dựa vào độ sâu của những phần vỏ còn sót lại để ước tính độ cao của các dãy núi đã biến mất.
Một trong những cái tên có thể từng sở hữu các đỉnh cao nhất là siêu dãy núi Transgondwana, hình thành cách đây khoảng 650 triệu năm trong quá trình các lục địa hợp nhất thành siêu lục địa Gondwana.
Dấu tích của hệ thống núi này ngày nay xuất hiện tại miền nam Ấn Độ, Sri Lanka, Tanzania và Kenya. Các nhà khoa học ước tính Transgondwana từng dài gấp ba lần Himalaya, với lớp vỏ bên dưới có độ dày trung bình lớn hơn.
“Chúng tôi cho rằng hệ thống núi này ít nhất có quy mô tương đương Himalaya, nếu không muốn nói là lớn hơn”, ông Collins nhận định.
Dù trải qua khoảng nửa tỷ năm xói mòn, một số phần vỏ còn sót lại vẫn kéo dài xuống độ sâu 30 km. Chuyên gia Collins cho rằng chúng có thể từng nằm giữa một cột vỏ dày 60 km, cho thấy các đỉnh núi phía trên có khả năng cao tương đương Everest.
Transgondwana cũng có thể từng bao quanh một cao nguyên tương tự cao nguyên Tây Tạng ngày nay, nơi có độ cao trung bình khoảng 6 km. Những đỉnh núi cao nhất của hệ thống cổ đại này có thể từng nằm tại miền đông Madagascar, miền nam Ấn Độ và phía đông Nam Cực.
Trái Đất từng tồn tại những siêu dãy núi kéo dài và có đỉnh cao hơn cả Everest. (Ảnh: Earth Sciences)
Một cái tên khác là hệ thống núi hình thành trong quá trình kiến tạo Grenville, gắn với sự ra đời của siêu lục địa Rodinia cách đây khoảng 1,3 tỷ năm. Dấu tích hiện được tìm thấy tại đông nam Ontario, Canada, và tây bắc Vermont, Mỹ.
Tuy nhiên, thông tin về hệ thống núi này còn hạn chế. Một số nhà khoa học cho rằng nó có thể không cao bằng Transgondwana hoặc Himalaya.
Xa hơn trong quá khứ, quá trình hình thành siêu lục địa Nuna, còn gọi là Columbia, cách đây khoảng hai tỷ năm cũng để lại bằng chứng về những dãy núi khổng lồ. Chuyên gia Zhu đã tìm thấy dấu tích của chúng khi phân tích thành phần các tinh thể zircon trong vỏ Trái Đất.
Việc xác định độ cao của những ngọn núi cổ xưa hơn càng khó khăn. Chuyên gia Collins cho biết khi Trái Đất còn nóng hơn hiện nay, lớp vỏ có khả năng chịu tải trọng thấp hơn, khiến núi khó đạt độ cao lớn.
Các mảng lục địa ổn định chỉ bắt đầu hình thành khoảng 4 tỷ năm trước, còn những lục địa lớn xuất hiện sau đó hàng trăm triệu năm.
Chuyên gia Zhu cho rằng Nuna, Transgondwana và Himalaya hiện là ba ứng viên sáng giá nhất cho danh hiệu hệ thống núi từng sở hữu những đỉnh cao nhất lịch sử Trái Đất. Tuy nhiên, với các phương pháp khoa học hiện nay, việc xác định chính xác ngọn núi cao nhất vẫn gần như bất khả thi.
“Đây vẫn là một câu hỏi chưa có lời giải”, Zhu nói.
Kỷ lục giá bán mới cho tuyệt tác của danh họa Van Gogh
Tác phẩm "Chestnut Trees in Blossom" sắp lên sàn đấu giá với mức 180 triệu USD. Bức tranh hứa hẹn xô đổ mọi kỷ lục giá bán sau thời gian dài nằm gọn trong các bộ sưu tập tư nhân.
Nhà đấu giá Sotheby's vừa công bố thông tin rúng động giới nghệ thuật về sự kiện tại New York, Mỹ. Vào ngày 18/11, tác phẩm "Chestnut Trees in Blossom" của thiên tài Hà Lan sẽ chính thức được chào bán. Bức tranh này có tên gốc tiếng Pháp "Chataigniers en fleurs", miêu tả hàng cây hạt dẻ đang trổ hoa rực rỡ. Suốt 6 thập kỷ qua, bức họa hoàn toàn vắng bóng do cất giữ cẩn thận bởi nhà sưu tập tư nhân.
Lịch sử kiệt tác này chứa đựng nhiều điều thú vị kể từ lúc tác giả qua đời năm 1890. Ban đầu, bức tranh nằm dưới quyền quản lý của gia đình Theo van Gogh, người em trai luôn ủng hộ tài chính cho họa sĩ. Sau đó, tác phẩm kinh điển chuyển giao qua tay nhiều nhân vật. 1 chủ nhân đáng chú ý là George Gard de Sylva, nhà đồng sáng lập hãng thu âm Capitol Records của Mỹ.
Năm 1975, bức "Chestnut Trees in Blossom" bước vào bộ sưu tập nghệ thuật của gia đình nhà tài phiệt Argentina tên là Carlos Pedro Blaquier. Vợ chồng tỷ phú này đã gìn giữ kiệt tác hội họa. Theo The Art Newspaper, vợ ông Carlos đã qua đời năm 2020. Chỉ 3 năm sau đó, vị tài phiệt Argentina cũng trút hơi thở cuối cùng năm 2023, để lại kiệt tác hội họa cho các con tiếp quản.
Trước khi chính thức lên sàn tại Mỹ, kiệt tác này đã có chuyến đi đáng nhớ tại châu Á. Tác phẩm được trưng bày tại chi nhánh Sotheby's ở Hong Kong trong 3 ngày, khoảng ngày 13/10 tới 15/10. Theo Reuters, sự kiện này tạo ra cơn sốt khi thu hút hàng trăm người xếp hàng chờ đợi tận mắt chiêm ngưỡng. Tạp chí Smithsonian nhận định giới mộ điệu đang vô cùng phấn khích trước cơ hội ngắm nhìn tuyệt tác từng ẩn mình 60 năm.
Giới chuyên gia dự báo bức họa kích thước 70 x 58 cm này có thể chạm mốc 180 triệu USD, tương đương hơn 4.600 tỷ đồng. Nếu thành sự thật, tác phẩm sẽ thiết lập kỷ lục mới, trở thành bức tranh đắt giá nhất của danh họa từng giao dịch. Hiện tại, vị trí dẫn đầu vẫn thuộc về bức "Orchard with Cypresses" sáng tác năm 1888. Kiệt tác "Orchard with Cypresses" thu về 117,2 triệu USD trong phiên chào bán của nhà Christie's năm 2022.
Giai đoạn sáng tác bùng nổ trước lúc nhắm mắt
Giới chuyên môn đánh giá cao "Chestnut Trees in Blossom" bởi nó phản ánh 1 phần đời đầy sóng gió. Thiên tài Hà Lan hoàn thành tác phẩm này vào tháng 5/1890, đúng 2 tháng trước khi tự kết liễu cuộc đời ở tuổi 37. Trở lại 1 năm trước đó, sức khỏe tinh thần bất ổn đã buộc ông đến sống tại bệnh viện tâm thần Saint-Remy. Cơ sở y tế này tọa lạc tại khu vực Provence, Pháp, nơi chứng kiến ông vật lộn với khủng hoảng.
Sau khi rời khỏi bệnh viện, họa sĩ chuyển tới sinh sống tại ngôi làng yên bình mang tên Auvers-sur-Oise nằm ở ngoại ô Paris. Những tài liệu thư từ do Sotheby's thu thập hé lộ phần nào tâm trạng của ông trong chuỗi ngày này. Ông chia sẻ bản thân đã tìm thấy nguồn cảm hứng dồi dào nhờ cảnh vật thiên nhiên ngập tràn sắc xanh. Danh họa miêu tả niềm khát khao sáng tác sẽ cuộn lấy mình thật mạnh mẽ.
Tại ngôi làng thanh bình này, ông quyết định thuê 1 căn phòng nhỏ xíu trên gác mái của quán cà phê. Hàng ngày, vị họa sĩ xách đồ nghề ra ngoài trời thu trọn cảnh sắc làng quê vào khung vải. Theo AFP, đây chính là khoảng thời gian ông làm việc với cường độ phi thường, trung bình hoàn thành 1 bức tranh mỗi ngày. Tác phẩm "Chestnut Trees in Blossom" may mắn nằm trong nhóm 70 kiệt tác sáng tác lúc bấy giờ.
Ông Scott Niichel, phó chủ tịch Sotheby's, chia sẻ sâu sắc về kỹ thuật thể hiện trong tác phẩm. Chuyên gia này cho rằng bức tranh phản chiếu chân thực sự cuồng nhiệt tột độ của người nghệ sĩ thông qua từng nét cọ. Họa sĩ dồn nén cảm xúc, đắp nhiều lớp sơn thật dày lên mặt vải canvas. Ông Niichel khẳng định đây là tác phẩm vô cùng biểu cảm của Van Gogh.
Vincent van Gogh sinh năm 1853, là nhân vật tiên phong của trường phái biểu hiện, có tầm ảnh hưởng sâu rộng vào sự phát triển mỹ thuật hiện đại. Phong cách của ông mang dấu ấn trường phái Ấn tượng, chịu sự tác động lớn do các tên tuổi như Degas, Toulouse-Lautrec, Pissarro hay Gauguin. Mặc dù cầm cọ muộn vào năm 27 tuổi, ông kịp để lại kho tàng khổng lồ. Cảm xúc mãnh liệt là chìa khóa giúp nghệ thuật của ông trường tồn.
Trong số những di sản đồ sộ đó, không thể bỏ qua các siêu phẩm bất hủ như "Starry Night" ra đời năm 1889 hay "Café Terrace at Night" vẽ năm 1888. Loạt tranh vẽ hoa hướng dương cũng góp phần đưa tên tuổi ông lên đỉnh cao chói lọi trong lịch sử hội họa. Lúc sinh thời họa sĩ sống 1 cuộc đời vô danh, nghèo khó. Nguồn sống duy nhất của ông dựa vào khoản tiền trợ cấp do em trai gửi.
Tạp chí Smithsonian Magazine tiết lộ 1 chi tiết xót xa về những khoảnh khắc cuối cùng của thiên tài hội họa. Vào ngày lìa xa cõi đời, người ta tìm thấy trong người ông 1 lá thư vẫn còn viết dở dang gửi cho em trai. Trong những dòng chữ tuyệt vọng đó, ông bày tỏ sự bất lực tột cùng trước số phận trớ trêu. Lời trăng trối ấy khép lại cuộc đời bi tráng của danh họa.
Trọng Hà/Báo Dân Việt
Chuẩn bị hồi sinh loài chim khổng lồ Dodo đã tuyệt chủng hơn
350 năm
Một công ty công nghệ sinh học của Mỹ cho biết đã đạt tiến triển trong dự án hồi sinh chim dodo, loài chim không biết bay từng sinh sống trên đảo Mauritius ở Ấn Độ Dương.
Colossal Biosciences, có trụ sở tại Dallas, bang Texas, Mỹ, ngày 14/10 thông báo đã sử dụng nền tảng AI mới phát triển mang tên GenoMorph để xác định những biến đổi di truyền có khả năng liên quan đến cấu trúc đầu và mỏ của chim dodo. Đây là bước tiến trong nỗ lực tìm ra các vị trí gene cần chỉnh sửa nhằm tái tạo những đặc điểm của loài chim đã tuyệt chủng này.
Theo kế hoạch, Colossal sẽ tìm cách đưa các đặc điểm di truyền của dodo vào tế bào của chim bồ câu Nicobar, họ hàng còn sống gần nhất của loài chim này. Chim bồ câu Nicobar có nguồn gốc từ một số hòn đảo ở Đông Nam Á, nổi bật với bộ lông ánh xanh lục và màu đồng. Khác với dodo, loài chim này có khả năng bay.
Colossal cho biết quá trình phân tích bộ gene của dodo đang bước vào giai đoạn cuối, với khoảng 95% dữ liệu đã được tái dựng. Công ty cũng đạt tiến triển trong việc rút ngắn thời gian kiểm tra xem một thay đổi di truyền có tạo ra đặc điểm mong muốn hay không. Tuy nhiên, doanh nghiệp chưa đưa ra thời điểm cụ thể có thể tạo ra một cá thể dodo.
Hình ảnh phục dựng chim dodo, loài chim đã tuyệt chủng từ thế kỷ XVII - Ảnh: Reuters
Colossal theo đuổi mục tiêu “giải tuyệt chủng”, tức sử dụng công nghệ sinh học để tái tạo những đặc điểm của các loài đã biến mất. Năm ngoái, công ty tuyên bố đã tạo ra những con sói mang đặc điểm của sói dire – loài thú săn mồi thời Kỷ Băng hà đã tuyệt chủng – bằng cách chỉnh sửa gene của sói xám, họ hàng còn sống gần nhất của chúng.
Ngoài dodo và sói dire, danh sách các loài Colossal muốn tái tạo còn có voi ma mút lông xoăn, hổ Tasmania (thylacine), linh dương bluebuck và moa – loài chim lớn không biết bay từng sinh sống tại New Zealand.
“Dodo là biểu tượng nổi tiếng nhất thế giới về sự tuyệt chủng do con người gây ra. Loài chim này biến mất chỉ vài thập kỷ sau khi con người đặt chân đến Mauritius, phần lớn do sự xuất hiện của các loài ngoại lai như chuột và những động vật khác mà con người đưa tới. Việc đưa dodo trở lại cho thấy sự tuyệt chủng không nhất thiết phải là vĩnh viễn”, Ben Lamm, Giám đốc điều hành kiêm đồng sáng lập Colossal, nói với Reuters.
Theo ông Lamm, dự án vẫn phải vượt qua nhiều trở ngại, trong đó có việc xác định chính xác những biến đổi di truyền nào quyết định đặc điểm của dodo, thực hiện nhiều chỉnh sửa gene trên chim và bảo đảm các đặc điểm này được truyền sang thế hệ tiếp theo. Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cần chuẩn bị môi trường sống an toàn cho loài chim này tại Mauritius nếu dự án thành công.
Dodo là loài chim sống trên mặt đất, cao khoảng 1 m và nặng tới 23 kg. Do không từng tiếp xúc với con người trước đó, chúng không tỏ ra sợ hãi khi con người đặt chân đến Mauritius vào thế kỷ XVI. Hoạt động săn bắt cùng sự xuất hiện của các loài động vật ngoại lai đã đẩy loài chim này đến bờ tuyệt chủng. Cá thể dodo cuối cùng được nhìn thấy vào năm 1662.
Dù không còn tồn tại ngoài tự nhiên, dodo vẫn hiện diện trong văn hóa đại chúng, nổi tiếng nhất qua tác phẩm Alice ở xứ sở thần tiên của nhà văn Lewis Carroll.
Một trong những khó khăn lớn của dự án là DNA cổ thường bị phân mảnh thành những đoạn nhỏ. Vì vậy, không bộ gene cổ nào có thể được tái dựng hoàn chỉnh tuyệt đối, kể cả bộ gene của dodo.
Colossal phát triển GenoMorph nhằm giải quyết một phần thách thức này. Theo ông Lamm, các nhà khoa học hiện chỉ có một bộ gene dodo hoàn chỉnh để nghiên cứu, khiến việc phân biệt những biến đổi di truyền tạo nên đặc điểm riêng của loài với các biến dị thông thường trở nên khó khăn.
Ông ví GenoMorph như một “bản đồ kho báu” của bộ gene dodo, giúp thu hẹp hàng trăm nghìn khả năng biến đổi di truyền xuống những mục tiêu có triển vọng nhất trong việc lý giải hình dạng chiếc mỏ và cấu trúc khuôn mặt đặc trưng của loài chim này.
Beth Shapiro, Giám đốc khoa học của Colossal, cho biết GenoMorph có thể xác định các mục tiêu chỉnh sửa gene tiềm năng ngay cả với những loài chỉ còn lại rất ít DNA. Thông thường, các nhà khoa học so sánh bộ gene của nhiều cá thể trong cùng một loài để tìm ra những gene liên quan đến một đặc điểm nhất định. Tuy nhiên, phương pháp này khó áp dụng với dodo do nguồn dữ liệu di truyền hạn chế.
Dù vậy, việc xác định được các vị trí gene tiềm năng mới chỉ là bước đầu. Các nhà khoa học vẫn cần chứng minh những chỉnh sửa này thực sự tạo ra đặc điểm mong muốn, đồng thời tìm cách đưa các thay đổi đó vào tế bào chim và bảo đảm chúng được di truyền qua các thế hệ.
Ngay cả khi đạt được tiến triển về công nghệ, việc tái tạo những đặc điểm của dodo cũng không đồng nghĩa có thể khôi phục hoàn toàn loài chim nguyên bản từng tồn tại trên đảo Mauritius. Khả năng thành công của dự án còn phụ thuộc vào những kết quả nghiên cứu tiếp theo và việc bảo đảm môi trường sống phù hợp cho các cá thể được tạo ra.
Theo Reuters
Trong sân những ngôi nhà cổ, bên cạnh các điền trang trồng nho hay trên những con phố lát đá dưới chân núi lửa Etna, Sicily, vẫn còn những chiếc giếng xây bằng đá, miệng vuông hoặc tròn, phía trên là khung sắt uốn cùng bộ ròng rọc kéo nước. Nhiều chiếc đã ngừng sử dụng, được đậy bằng lưới sắt hoặc trang trí bằng những chậu hoa nhỏ. Trước khi hệ thống cấp nước hiện đại xuất hiện, chúng từng phục vụ sinh hoạt hằng ngày của nhiều thế hệ cư dân.
Địa chất núi lửa Etna khiến việc khai thác nước trở nên khá đặc biệt. Nước mưa và tuyết tan thấm qua các lớp đá bazan nứt nẻ, di chuyển xuống sâu rồi tích tụ phía trên những tầng địa chất ít thấm nước. Vì vậy, dù Etna có nguồn nước ngầm đáng kể, người dân tại nhiều khu vực sườn núi vẫn phải đào giếng, xây bể chứa hoặc dẫn nước từ các nguồn xa hơn.
Từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại, cư dân Sicily đã biết xây dựng hệ thống dẫn nước, đào giếng và tích trữ nước mưa. Người La Mã từng xây dựng tuyến dẫn nước dài khoảng 24 km từ khu vực Santa Maria di Licodia về Catania. Qua thời Trung cổ và những thế kỷ tiếp theo, các giếng gia đình tiếp tục được xây dựng tại làng quê, tu viện, lâu đài và những trang trại quanh Etna.
Người Sicily phân biệt pozzo, giếng khai thác nước ngầm, với cisterna, bể ngầm tích trữ nước mưa. Tuy có nguyên lý hoạt động khác nhau, cả hai thường được thiết kế với miệng giếng bằng đá và hệ thống kéo nước tương tự.
Việc xây dựng đòi hỏi kinh nghiệm của thợ đào giếng, thợ xây và những nghệ nhân đẽo đá địa phương, gọi là scalpellini. Họ phải xác định vị trí, đánh giá độ ổn định của nền đất, đào đến độ sâu thích hợp và gia cố thành giếng bằng đá hoặc gạch. Với bể chứa nước mưa, mặt trong cần được trát vữa chống thấm, thường sử dụng vôi kết hợp các vật liệu có tính chất thủy lực.
Đá bazan từ Etna được sử dụng rộng rãi nhờ độ bền và nguồn cung tại chỗ. Những khối đá được cắt, đẽo thành hình vuông hoặc chữ nhật, ghép thành thành giếng chắc chắn. Phần miệng nhô cao khỏi mặt sân, gọi là vera da pozzo, giúp ngăn đất cát, rác và hạn chế nguy cơ người hoặc vật nuôi rơi xuống.
Khung sắt phía trên do thợ rèn chế tạo, thường có móc treo, dây kéo và ròng rọc để nâng hạ thùng nước. Tại các dinh thự khá giả, khung sắt được uốn thành hoa văn cầu kỳ, trong khi giếng ở nông trại thường có kết cấu đơn giản, dễ sửa chữa. Mỗi địa phương lại có cách gia công và trang trí khác nhau.
Đối với cisterna, nước mưa từ mái ngói được thu gom qua máng và đường dẫn xuống bể ngầm. Cặn bẩn được lắng hoặc loại bỏ trước khi lưu trữ. Lòng bể phải được vệ sinh định kỳ để duy trì chất lượng nước. Nhờ nằm dưới đất, nhiệt độ tương đối ổn định và ít tiếp xúc với ánh nắng, lượng nước tích trữ được bảo vệ tốt hơn trước tình trạng bốc hơi trong những tháng hè nóng bức.
Nguồn nước ấy phục vụ nấu nướng, giặt giũ, vệ sinh, chăn nuôi và tưới các khoảnh vườn nhỏ. Nước uống cần được bảo đảm vệ sinh, bởi việc tích trữ theo phương pháp truyền thống không thể tự loại bỏ hoàn toàn nguy cơ nhiễm bẩn.
Một công trình tiêu biểu là La Cisternazza tại Pisano, thuộc Zafferana Etnea, được xây dựng theo ý nguyện của Giám mục Andrea Riggio vào khoảng cuối thế kỷ XVII. Bể chứa sâu khoảng 10 mét, có miệng hình bát giác bằng đá núi lửa rộng chừng 3,2 mét. Nước mưa từ mái nhà thờ và các công trình xung quanh được dẫn về đây để phục vụ cư dân địa phương. Theo di chúc của vị giám mục, khách hành hương và người qua đường được nhận một thùng nước, đổi lại chỉ cần dành một lời cầu nguyện.
Trong đời sống làng quê Sicily, giếng còn là nơi người dân gặp gỡ mỗi ngày. Những người phụ nữ mang thùng đến lấy nước, trò chuyện về mùa màng, thời tiết và công việc gia đình. Việc lấy nước đòi hỏi sức lực, đặc biệt khi phải kéo những thùng đầy từ bể sâu rồi mang về nhà. Trong các mùa hạn, lượng nước còn lại luôn được tính toán cẩn thận.
Ngày nay, nhiều giếng cổ quanh Etna được bảo tồn như một phần kiến trúc của nhà ở, trang trại và các công trình lịch sử. Dấu mòn trên thành đá, khung sắt rèn thủ công và những viên đá ghép bằng tay cho thấy trình độ xây dựng của các thế hệ thợ Sicily.
Với người dân sống trên sườn Etna, việc có được nguồn nước ổn định từng quyết định vị trí xây nhà, tổ chức sản xuất nông nghiệp và sự phát triển của nhiều khu dân cư. Những chiếc giếng bằng đá núi lửa vì thế lưu giữ cả lịch sử khai thác nước lẫn kinh nghiệm thích nghi với điều kiện tự nhiên của hòn đảo qua nhiều thế kỷ.
#Etna #Sicily #Sicilia #PozzoAntico #Cisterna #PietraLavica #ZafferanaEtnea #ArchitetturaSiciliana #SicilianHistory #ItalianHeritage #storiadisicilia Pane e Vino
Năm 1804-năm Giáp Tý, ông vua nào nhà Nguyễn đổi tên từ Đại Việt sang tên là Việt Nam, chính sách "Tứ bất" là gì?
Năm Nhâm Tuất 1802, Nguyễn Phúc Ánh đánh bại nhà Tây Sơn, lên ngôi Hoàng đế, tự đặt niên hiệu là Gia Long, lập ra một triều đại mới: Triều đại nhà Nguyễn trong lịch sử phong kiến Việt Nam.
Chính sách “Tứ bất” thời nhà Nguyễn (không đặt Tể tướng, không lấy Trạng nguyên, Đông cung không lập Thái tử và Chính cung không lập Hoàng hậu)
Các vua nhà Nguyễn, từ Gia Long đến Tự Đức, kế tiếp nhau xây dựng và củng cố nền thống trị, bảo vệ chế độ phong kiến trong bối cảnh khủng hoảng suy vong.
Tuy nhiên, trong hơn nửa đầu thế kỷ XIX, xã hội Việt Nam dưới triều nhà Nguyễn, hầu như không phát triển lên được theo chiều hướng tiến bộ của thời đại.
Mâu thuẫn của xã hội sâu sắc làm bùng lên hàng loạt các cuộc khởi nghĩa lớn của nông dân, của các dân tộc ít người, và cuối cùng nước Việt Nam trở thành đối tượng của chủ nghĩa thực dân phương Tây.Về tình hình chính trị: Sau khi lên ngôi, vua Gia Long đóng đô ở Phú Xuân (Huế), giữ nguyên các đơn vị hành chính cũ của hai miền, đặt quan chức giữ trấn.
Năm Giáp Tý 1804, được sự đồng ý của vua nhà Thanh, vua Gia Long đổi tên nước là Việt Nam, đến năm Mậu Tuất 1838, vua Minh Mệnh lại đổi quốc hiệu là Đại Nam.
Chính quyền trung ương được tổ chức như các triều đại trước, đứng đầu là vua, nắm mọi quyền hành. Để tập trung hơn nữa mọi quyền hành về tay mình, các vua nhà Nguyễn đặt lệ “Tứ bất” (không đặt Tể tướng, không lấy Trạng nguyên, Đông cung không lập Thái tử và Chính cung không lập Hoàng hậu).
Nhưng đến thời vua Bảo Đại – vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn là trường hợp đặc biệt, vua Bảo Đại đã phong cho vợ làm Nam Phương Hoàng hậu.
Dưới vua là 6 Bộ và 5 phủ đô đốc, ngoài ra có Đô sát viện(Ngự sử đài cũ); Hàn lâm viện, Tôn nhân phủ; Quốc tử Giám, Nội vụ phủ v.v… giúp vua còn có Văn thư phòng, sang thời Minh Mệnh đổi thành Nội các, chuyên lo việc công văn giấy tờ và đi theo vua. Vua Mimh Mệnh còn đặt thêm Viện Cơ Mật, gồm bốn viên đại thần chuyên bàn với vua các việc “quốc gia đại sự”.
Chính sách luật pháp thời nhà Nguyễn
Năm Tân Mùi 1811, vua Gia Long giao cho Tổng trấn Bắc thành là Nguyễn Văn Thành tổ chức biên soạn bộ luật mới.
Đến năm Ất Hợi 1815, bộ luật nhà Nguyễn được biên soạn xong và ban hành với cái tên là Hoàng triều luật lệ, hay Luật Gia Long. Bộ luật sao chép hầu như nguyên vẹn bộ luật nhà Thanh đương thời, gồm tất cả 398 điều, chia thành 7 chương và 30 điều tạp tụng.
Luật Gia Long là một bộ luật hà khắc, phản ánh rõ nét chuyên chế của giai cấp thống trị, trên bước đường suy vong.Mọi tội phạm liên quan đến việc chống đối triều đình đều bị trừng trị tàn bạo.
Vương triều nhà Nguyễn trong lịch sử phong kiến Việt Nam (1802 – 1945) là vương triều đổi tên nước ta từ tên Đại Việt thành tên Việt Nam, dưới thời vua Gia Long-ông vua khai mở vương triều.
Tuy nhiên, Luật Gia Long cũng có mặt tích cực là trừng trị nặng tội tham nhũng và các tệ nạn xã hội.
Chính sách xây dựng Quân đội thời nhà Nguyễn:
Gồm ba bộ phận chính là Thân binh (hộ vệ vua); Cấm binh (bảo vệ thành); Tinh binh và Biền binh (quân địa phương, ngoài ra còn một số thuộc binh (lính lệ).
Nhà Nguyễn và lĩnh vực đối ngoại
Nhà Nguyễn rất khâm phục nhà Thanh (Trung Quốc), sau khi đánh bại được nhà Tây Sơn, vua Gia Long đã cử ngay sứ thần sang nhà Thanh xin cầu phong.
Vua nhà Thanh đã đồng ý cho nước ta được đặt quốc hiệu là Việt Nam, nhưng do phản ứng của nhân dân trong nước, nên đến năm 1813 vua Gia Long lại cho đổi lại quốc hiệu là Đại Việt, và đến năm 1838, vua Minh Mệnh bất bình đã khẳng định lại quốc hiệu là Đại Nam.
Sau khi xin cầu phong thì cứ 4 năm một lần, triều đình nhà Nguyễn cho sứ thần sang nộp hai lần cống phẩm.
Mỗi lần sứ thần nhà Thanh sang phong vương, các vua nhà Nguyễn phải tổ chức đón tiếp rất tốn kém và phải ra tận Thăng Long để nhận.
Tình hình đó kéo dài mãi đến năm Kỷ Dậu 1849. Mọi việc quan trọng trong quan hệ đối ngoại, các vua nhà Nguyễn hầu như đều cho sứ thần sang xin ý kiến của nhà Thanh.
Đối với các nước láng giêng như Ai Lao và Campuchia, nhà Nguyễn thường dùng vũ lực để khống chế, còn quan hệ đối với Xiêm (Thái Lan) cũng rất thất thường.
Một vấn đề lớn trong quan hệ đối ngoại của nhà Nguyễn lúc bấy giờ là mối quan hệ với phương Tây.
Các vua nhà Nguyễn đã “đóng cửa” chính sách bế quan tỏa cảng, cự tuyệt việc quan hệ với các nước phương Tây đã trở thành một quốc sách của cả triều nhà Nguyễn.
Về mặt văn hóa giáo dục thời nhà Nguyễn
Từ giữa thế kỷXVIII, giáo dục thi cử của nước ta ngày càng sa sút. Đến đầu thế kỷ XIX, sau khi lên ngôi Hoàng đế, Gia Long định tổ chức lại việc giáo dục thi cử nhưng không làm được
Việc học hành phải mất mấy năm mới dần dần được khôi phục. Năm Đinh Mão 1807 mới tổ chức được khoa thi Hương đầu tiên của triều nhà Nguyễn, mà cũng chỉ tổ chức được ở những trường thi ở Bắc Hà (số lượng người đỗ đạt rất ít).
Từ sau đó, số trườngthi Hương trong cả nước rút xuống còn 6 trường, kỳ hạn thi không cố định.
Đã có thi Hương nhưng chưa có thi Hội và thi Đình trong suốt thời kỳ vua Gia Long trị vì. Đến đời vua Minh Mệnh vào năm 1822, nhà Nguyễn mới có điều kiện mở khoa thi Hội đầu tiên.
Và khoa thi Hội năm Nhâm Ngọ đó, lấy đỗ 8 Tiến sỹ (Nguyễn Ý, Lê Quang, Phan Hữu Tính, Hà Tôn Quyền, Đinh Văn Phác, Vũ Đức Khuê, Phan Bá Đạt và Trần Lê Hiệu), đây là 8 Tiến sỹ đầu tiên của vương triều nhà Nguyễn.
Trường thi Nam Định dưới thời vương triều nhà Nguyễn tọa lạc tại làng Vị Hoàng, thành phố Nam Định-nơi từng có con sông cổ xưa mang tên sông Vị Hoàng chảy qua. Ảnh: Tư liệu.
Đến năm Minh Mệnh thứ 7 (năm 1826) thi Hội triều đình nhà Nguyễn cũng chỉ lấy có 10 người đỗ Tiến sỹ.
Vì lấy đỗ như vậy là quá ít so với các khoa thi Tiến sỹ đời nhà Lê trước đó, cho nên đến khoa thi năm Ất Sửu 1829, Bộ Lễ quy định mỗi khoa lấy thêm những người có điểm số gần sát với hạng Đệ tam giáp, nhưng tách riêng ra làm một bảng phụ, gọi là Phó bảng.
Như vậy, Phó bảng cũng được chọn luôn trong kỳ thi đại khoa, nhưng về mặt đãi ngộ thì không được như những người đỗ chính bảng.
Đáng chú ý là ngay khoa thi đầu tiên, vua Minh Mệnh đã không cho ai đỗ Trạng nguyên, và từ đó về sau lấy đó lam định lệ, lệ này chính là một trong bốn quy định đặc thù của triều nhà Nguyễn mà sử thường gọi là lệ “Tứ bất”.
Như vậy học vị Phó bảng cũng có từ năm này, trong lịch sử khoa bảng của nhà Nguyễn tính từ năm 1829 đến năm thi Hương cuối cùng năm 1919 tròn đúng 90 năm, đã tuyển chọn được 260 Phó bảng trên 557 vị đại khoa của 39 khoa thi Hội.
Cả hai đời vua Minh Mệnh và Thiệu Trị vẫn mở khoa thi Hội theo định lệ là cứ 3 năm thi một lần. Chỉ đến đời vua Tự Đức mới đặt Ân khoa, nghĩa là khoa thi vua đặc ân cho mở thêm ngoài các năm quy định.
Việc tổ chức các khoa thi dưới triều nhà Nguyễn, nhất là thi Hội nhằm mục đích kén chọn nhân tài giúp nước, bổ sung quan chức cấp cao cho chính quyền. Đó là việc trọng đại, thậm chí là rất quan trọng, nên đã được triều nhà Nguyễn quan tâm.
Tuy nhiên sang đầu thế kỷ XX, những năm dưới triều vua Thành Thái và Duy Tân, dư luận ngày càng phê phán lối học khoa cử lỗi thời.
Đến năm Kỷ Mùi 1919, khoa thi Hội dưới thời vua Khải Định đã trở thành khoa thi cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam.
Cuối cùng, vào ngày 30 tháng 8 năm Ất Dậu 1945, trước hơn 5 vạn nhân dân thành phố Huế tập trung ở cửa Ngọ Môn, vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn đồng thời cũng là vị vua cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam, vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị, trao ấn kiếm cho đại diện chính quyền Cách mạng và tuyên bố rằng: “Làm công dân một nước tự do còn hơn làm vua một nước nô lệ”.
Vương triều nhà Nguyễn đến đây đã sụp đổ hoàn toàn
Như vậy, Vương triều nhà Nguyễn bắt đầu được thành lập từ năm 1802, đến năm 1945 tồn tại đúng 143 năm.
Trên thực tế thì năm 1883, khi triều nhà Nguyễn phải ký hiệp ước Hác –măng (Harmand) chấp nhận để cho thực dân Pháp đặt quyền thống trị trên toan bộ lãnh thổ nước ta thì các vị vua nhà Nguyễn sau đó cũng chỉ là bù nhìn.
Triều nhà Nguyễn là triều đại cuối cùng trong lịch sử phong kiến của Việt Nam, mặc dù để mất nước vào tay thực dân Pháp, nhưng vương triều nhà Nguyễn cũng đã có đóng góp nhiều cho sự phát triển của dân tộc ta.
-----------------------------
Tài liệu tham khảo:
1: Đại cương lịch sử Việt Nam tập 1, Trương Hữu Quýnh (chủ biên) NXB Giáo dục 2000
2: Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến năm 1884, Gs Nguyễn Phan Quang, Ts Võ Xuân Đàn, NXB TP HCM, 2000.
3: Khoa cử và giáo dục Việt Nam, Nguyễn Quyết Thắn, NXB Tổng hợp TP HCM, 2005









