Trứng là một phần của chế độ ăn giàu dinh dưỡng có thể hỗ trợ sức khỏe tổng thể, bao gồm cả hệ tim mạch và mắt. Vậy điều gì xảy ra với cơ thể nếu ăn trứng mỗi ngày trong 2 tuần.
Trứng là một trong những thực phẩm phổ biến nhất trong chế độ ăn hằng ngày do có thể chế biến nhanh, dễ kết hợp với nhiều thực phẩm khác nhau.
Trứng chứa protein chất lượng cao, vitamin B12, vitamin D, choline và nhiều chất chống oxy hóa tốt cho mắt như lutein, zeaxanthin. Tuy nhiên, hàm lượng cholesterol trong lòng đỏ khiến không ít người lo ngại việc ăn nhiều trứng có thể ảnh hưởng đến tim mạch.
Bác sĩ Saurabh Sethi, chuyên gia tiêu hóa được đào tạo tại Harvard và Stanford (Mỹ), đã chia sẻ những điều có thể xảy ra với cơ thể nếu bạn ăn trứng mỗi ngày trong 14 ngày.
Ảnh minh họa.
Cải thiện chức năng não: Trứng rất giàu choline. Dưỡng chất này giúp cơ thể sản xuất acetylcholine - một chất dẫn truyền thần kinh liên quan đến trí nhớ và khả năng tập trung. Việc bổ sung thường xuyên có thể hỗ trợ suy nghĩ rõ ràng hơn và tăng khả năng tập trung.
Cải thiện cân bằng cholesterol: Trứng thường bị cho là làm tăng cholesterol. Tuy nhiên, bác sĩ Sethi cho biết ở nhiều người, trứng thực sự có thể làm tăng HDL - còn gọi là cholesterol "tốt". Điều này góp phần hỗ trợ sức khỏe tim mạch khi được tiêu thụ ở mức hợp lý.
Hỗ trợ sức khỏe mắt: Lòng đỏ trứng chứa lutein và zeaxanthin. Đây là các chất chống oxy hóa giúp bảo vệ mắt bằng cách lọc ánh sáng xanh có hại, đồng thời hỗ trợ sức khỏe mắt về lâu dài.
Tóc, da và móng khỏe hơn: Trứng cung cấp các axit amin chứa lưu huỳnh. Những chất này giúp cơ thể sản xuất keratin - một loại protein quan trọng cho mái tóc chắc khỏe, làn da khỏe mạnh và móng cứng cáp.
Dù trứng mang lại nhiều lợi ích, tuy nhiên, khi nhiệt độ tăng cao tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, làm tăng nguy cơ ngộ độc thực phẩm. Vì vậy, bạn cần chú ý đến cách bảo quản và xử lý trứng.
Tiến sĩ Jinal Patel, chuyên gia dinh dưỡng trưởng tại Bệnh viện Zynova Shalby, Mumbai, (Ấn Độ) giải thích: Xử lý trứng không đúng cách có thể làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn và các vấn đề cho dạ dày. Ăn trứng bị nhiễm khuẩn hoặc nấu chưa chín kỹ có thể làm tăng nguy cơ ngộ độc thực phẩm, dẫn đến tiêu chảy, đau bụng, nôn mửa và đau bụng.
Ảnh minh họa.
Lời khuyên của chuyên gia
Chuyên gia Patel khuyên, bạn cần cẩn thận và thực hiện các biện pháp phòng ngừa sau:
-Tránh ăn trứng sống hoặc chưa chín kỹ, vì nhiệt độ cao làm tăng nguy cơ phát triển vi khuẩn.
-Bảo quản trứng đúng cách trong tủ lạnh để tránh hư hỏng và nhiễm khuẩn.
-Không nên để trứng ở ngoài trời quá lâu trong mùa hè.
-Ăn với khẩu phần vừa phải, khoảng 1 - 2 quả mỗi ngày là an toàn. Kết hợp trứng với rau, salad và ngũ cốc nguyên hạt.
-Chọn trứng luộc hoặc trứng bác thay vì chiên rán.
Những người cần lưu ý khi ăn trứng
Tuy trứng an toàn với đa số người khỏe mạnh, nhưng một số nhóm người cần thận trọng hơn khi sử dụng:
-Người có cholesterol LDL cao hoặc bệnh tim mạch: nên theo dõi lượng trứng, đặc biệt là lòng đỏ, và chú ý tổng thể chế độ ăn thay vì chỉ nhìn vào trứng đơn lẻ.
-Người mắc tiểu đường: có thể ăn trứng nhưng cần trao đổi với bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng để điều chỉnh lượng phù hợp với nguy cơ tim mạch và kiểm soát đường huyết.
-Người dị ứng trứng: cần tránh vì có thể gây phản ứng từ nhẹ đến nghiêm trọng.
-Phụ nữ mang thai, người lớn tuổi hoặc suy giảm miễn dịch: nên tránh trứng sống hoặc chưa chín kỹ để giảm nguy cơ nhiễm khuẩn Salmonella.
Minh Hoa
Trứng vịt lộn: Nguồn năng lượng tuyệt vời bồi bổ cơ thể nhưng nhiều người không nên ăn
Nhờ hàm lượng dinh dưỡng vượt trội, trứng vịt lộn được ví như một loại 'thực phẩm chức năng' tự nhiên, tuy nhiên, không phải ai cũng nên ăn.
Trứng vịt lộn - nguồn năng lượng bồi bổ cơ thể
Theo TS. Lê Thị Hương Giang, Trưởng Khoa Tiết chế dinh dưỡng, Bệnh viện 19-8 (Hà Nội) cho biết, một quả trứng vịt lộn cung cấp khoảng 180 calo, tương đương một bát cơm trắng. Ngoài ra, loại trứng này còn chứa một lượng đạm, chất béo, sắt, kẽm và vitamin B12 dồi dào.
Ảnh minh họa.
Tuy nhiên, lượng cholesterol trong một quả trứng vịt lộn rất cao, lên đến khoảng 600mg. Lượng cholesterol đáp ứng gấp đôi nhu cầu khuyến nghị hằng ngày của một người trưởng thành và cao gấp khoảng 3 lần so với trứng gà thông thường.
"Điều này khiến trứng vịt lộn trở thành nguồn năng lượng tuyệt vời khi bạn muốn bồi bổ nhanh cho cơ thể nhưng lại gây ảnh hưởng đến sức khỏe nếu ăn thường xuyên", TS. Giang cảnh báo.
Gây áp lực lên hệ tim mạch: Các tổ chức y tế lớn như Hiệp hội Tim mạch Mỹ (AHA) đã đưa ra khuyến cáo, người có nguy cơ tim mạch cần kiểm soát chặt chẽ lượng cholesterol nạp vào. Đặc biệt với người cao tuổi có sẵn nền bệnh tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu hoặc xơ vữa động mạch, việc ăn trứng vịt lộn sẽ làm gia tăng đáng kể gánh nặng chuyển hóa.
Nguy cơ dư thừa vitamin A: Trứng vịt lộn có chứa hàm lượng vitamin A (retinol) rất cao. Nếu ăn quá nhiều và liên tục, cơ thể không kịp đào thải và dẫn đến tích lũy tại gan, từ đó gây độc cho gan khiến bạn cảm thấy mệt mỏi, thậm chí vàng da.
Thừa muối (natri) thầm lặng: Thói quen ăn trứng vịt lộn kèm muối tiêu đậm vô tình làm tăng lượng natri nạp vào cơ thể. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), dư thừa muối là "thủ phạm" thầm lặng kích hoạt tăng huyết áp và suy giảm chức năng thận.
Gây đầy bụng, khó tiêu: Trứng vịt lộn chứa hàm lượng protein và lipid đậm đặc, nếu ăn vào buổi tối dễ bị trướng bụng, đầy hơi và mất ngủ bởi đây là lúc hệ tiêu hóa hoạt động chậm lại.
Trứng vịt lộn được xem là món ăn "đại bổ", nhưng không phải cơ thể nào cũng sẵn sàng tiếp nhận lượng dinh dưỡng dày đặc này. Với một số người, ăn sai thời điểm hoặc không đúng thể trạng có thể gây phản tác dụng rõ rệt.
Những nhóm người nên cân nhắc trước khi ăn trứng vịt lộn
Trẻ em dưới 5 tuổi: Ở lứa tuổi này, hệ tiêu hóa của trẻ chưa hoàn thiện. Hàm lượng đạm và chất béo quá cao trong trứng vịt lộn sẽ gây đầy bụng, rối loạn tiêu hóa và tiêu chảy cho trẻ.
Nếu muốn bổ sung trứng vào khẩu phần ăn, nên ưu tiên các loại trứng thông thường và chế biến đơn giản. Trứng vịt lộn không phải lựa chọn phù hợp cho trẻ nhỏ.
Ảnh minh họa.
Người có cholesterol cao, bệnh tim mạch: Trứng vịt lộn chứa lượng cholesterol khá cao, vượt xa nhiều loại thực phẩm thông thường. Khi đưa vào cơ thể, lượng chất béo này có thể làm tăng nguy cơ tích tụ mỡ trong máu, đặc biệt với những người đã có tiền sử tim mạch.
Việc ăn thường xuyên hoặc ăn nhiều trong một lần có thể khiến chỉ số mỡ máu tăng nhanh, tạo áp lực lớn lên hệ tim mạch. Điều này làm gia tăng nguy cơ xơ vữa động mạch, huyết áp cao và các biến chứng liên quan.
Nếu vẫn muốn ăn, cần kiểm soát chặt số lượng và tần suất. Tuy nhiên, với người có bệnh nền rõ ràng, tốt nhất nên hạn chế tối đa để tránh rủi ro không đáng có.
Người bệnh gout, người có chỉ số axit uric cao: Trứng vịt lộn là thực phẩm giàu purin và người bệnh cần hạn chế tối đa, không ăn trong cơn đau cấp và không dùng kèm rượu bia.
Khi tiêu thụ, cơ thể phải chuyển hóa lượng đạm lớn, từ đó sinh ra acid uric. Với người đang trong giai đoạn nhạy cảm, chỉ một khẩu phần nhỏ cũng có thể khiến khớp sưng đau, khó chịu kéo dài.
Ảnh minh họa.
Việc kiêng khem trong chế độ ăn là yếu tố then chốt giúp kiểm soát gout. Vì vậy, trứng vịt lộn nên nằm trong danh sách cần tránh hoặc chỉ dùng rất hạn chế.
Người có hệ tiêu hóa kém, dễ đầy bụng: Trứng vịt lộn giàu chất béo và protein, khiến quá trình tiêu hóa trở nên chậm và nặng nề hơn. Với người có dạ dày yếu, điều này dễ gây cảm giác khó chịu sau khi ăn.
Các triệu chứng thường gặp gồm đầy hơi, chướng bụng, khó tiêu hoặc buồn nôn. Nếu ăn vào buổi tối, tình trạng này càng rõ rệt do cơ thể ít vận động, quá trình tiêu hóa diễn ra chậm.
Để tránh áp lực cho hệ tiêu hóa, nhóm người này nên chọn thực phẩm nhẹ nhàng hơn. Nếu ăn trứng vịt lộn, cần ăn vào ban ngày và kết hợp với rau gia vị để giảm cảm giác ngấy.
Trứng vịt lộn không xấu, nhưng không phải "ai ăn cũng bổ". Hiểu rõ thể trạng và giới hạn của cơ thể mới là cách ăn uống thông minh, tránh lợi bất cập hại.
H.Giang (theo vietnamnet, thoibaovhnt)
Ăn khoai lang mỗi sáng, người phụ nữ 55 tuổi nhận thấy điều "bất thường"
Người phụ nữ 55 tuổi ăn khoai lang mỗi ngày suốt thời gian dài bất ngờ nhận thấy da mình có sự thay đổi.
Theo đó, người phụ nữ 55 tuổi đến khám vì da mặt và lòng bàn tay ngả vàng.
Theo bác sĩ Trung y La Bội Lâm, nhiều người thường nghĩ da vàng là dấu hiệu của bệnh gan. Tuy nhiên, trong trường hợp này, nguyên nhân lại hoàn toàn khác. Bác sĩ La nhận thấy lòng trắng mắt của bà vẫn trắng bình thường, chỉ phần da đổi màu rõ rệt. Sau khi bác sĩ hỏi kỹ thói quen ăn uống của người bệnh, nguyên nhân được làm sáng tỏ.
Ảnh minh hoạ.
Nữ bệnh nhân cho biết, trước đây hay bị táo bón. Nghe nói khoai lang giúp nhuận tràng nên đều đặn ăn mỗi sáng. Sau một thời gian, tình trạng táo bón cải thiện, thậm chí mắt cũng đỡ mờ hơn.
Tuy nhiên, theo TVBS, việc ăn khoai lang hằng ngày suốt nhiều năm lại là thủ phạm khiến làn da bà chuyển màu.
Việc ăn khoai lang thường xuyên đã khiến nữ bệnh nhân vàng da do tăng caroten máu. Theo bác sĩ La, đây là tình trạng cơ thể hấp thu quá mức β-carotene - một sắc tố tự nhiên có trong thực phẩm màu vàng, cam, đỏ như khoai lang, cà rốt, bí đỏ, xoài hoặc đu đủ. Lượng carotene quá cao sẽ lắng đọng trong lớp sừng của da, đặc biệt ở những vùng da dày như lòng bàn tay, bàn chân và trong trường hợp nghiêm trọng, toàn thân có thể ngả vàng.
Tình trạng trên không gây hại đến gan hay sức khỏe tổng thể nhưng ảnh hưởng khá rõ đến thẩm mỹ. Điểm khác biệt quan trọng giữa vàng da do carotenemia và vàng da do bệnh gan là lòng trắng mắt: Nếu lòng trắng mắt cũng vàng, nhiều khả năng do bệnh lý gan mật. Nếu mắt vẫn trắng, nguyên nhân thường do ăn quá nhiều thực phẩm chứa carotene.
Khi ngừng hoặc giảm ăn các thực phẩm giàu β-carotene, da sẽ dần trở lại màu sắc tự nhiên. Tuy nhiên, quá trình này có thể kéo dài vài tuần đến vài tháng, tùy khả năng trao đổi chất của mỗi người.
"β-carotene là dưỡng chất quý, chống oxy hóa và bảo vệ tế bào. Nhưng nếu thấy da hoặc lòng bàn tay vàng hơn bình thường, bạn nên tạm giảm tần suất ăn hoặc thay đổi thực đơn. Thực phẩm dù tốt đến đâu cũng cần sự điều độ. Nếu biết cân bằng, bạn vừa tận dụng được lợi ích của khoai lang vừa giữ cho làn da luôn tươi sáng và khỏe mạnh", bác sĩ La nói.
Ảnh minh hoạ.
Ngoài việc ăn quá nhiều, bạn cũng cần tránh một số sai lầm khi sử dụng khoai lang như sau:
Ăn khoai lang khi bụng đói
Ăn khoai lang khi bụng đói thực sự không phải thói quen tốt, đặc biệt là đối với những người có lượng đường trong máu dao động lớn. Mặc dù khoai lang rất giàu chất xơ nhưng việc ăn quá nhiều cùng một lúc khi bụng đói vẫn có thể khiến lượng đường trong máu tăng nhanh và gây khó chịu đường tiêu hóa.
Người hệ tiêu hóa không tốt, thường xuyên bị đầy hơi, chướng bụng không nên ăn nhiều khoai lang vì lúc ăn sẽ làm tăng tiết dịch vị, gây nóng ruột, ợ chua, càng sinh hơi chướng bụng. Nếu muốn ăn nên ăn vừa phải, ăn ít một và chỉ nên ăn 2-3 lần trong tuần, không nên ăn kéo dài gây tổn thương hệ thống tiêu hóa.
Chế biến sai cách
Phương pháp chế biến khoai lang cũng ảnh hưởng đến sức khỏe. Nhiều người thích chiên hoặc nướng khoai lang. Khoai lang khi chiên sẽ giòn bên ngoài, mềm bên trong, trông rất ngon, nhưng hàm lượng chất béo cao lại không tốt cho sức khỏe tim mạch.
Đặc biệt, những người ăn khoai lang chiên trong thời gian dài dễ gặp các vấn đề như tăng lipid máu và tăng cân. Ngược lại, hấp, luộc và nướng (không dùng quá nhiều dầu) lại tốt cho sức khỏe hơn vì giữ được chất dinh dưỡng của khoai lang mà không làm tăng thêm calo.
Ăn khoai lang thay cơm để giảm cân
Theo các bác sĩ, khoai lang rất tốt cho sức khỏe nhưng không thể dùng thay cơm. Trong khoai lang vẫn chứa lượng đường khá cao, nhất là các loại khoai mật. Ăn khoai lang dài ngày thay cơm có thể dẫn đến việc tích đường trong cơ thể, là nguyên nhân dẫn đến nhiều chứng bệnh cũng như làm bệnh tình thêm trầm trọng hơn.
Người bệnh thận ăn nhiều khoai lang dễ mắc thêm bệnh tim mạch. Nguyên nhân, khoai lang chứa nhiều chất xơ, vitamin A, đặc biệt là kali. Khi thận yếu, chức năng loại bỏ kali dư thừa cùng bị hạn chế, gây ra những tác hại nguy hiểm như rối loạn nhịp tim, gây yếu tim...
Do đó, người bị bệnh thận thậm chí còn được khuyến cáo không nên ăn khoai lang.
Ăn khoai lang có đốm đen
Khoai lang bảo quản không tốt sẽ rất dễ bị hà, xuất hiện những đốm đen, nhiều người không vứt bỏ mà cắt bỏ phần hà, đốm đen đi để luộc lên rồi ăn tiếp. Tuy nhiên việc xuất hiện những vết này có nghĩa khoai đã bị nhiễm khuẩn vằn đen ô nhiễm gây độc cho gan.
Loại độc tố này sẽ không hề bị tiêu diệt dù bạn có luộc khoai trong nước sôi sùng sục hay là nướng khoai với than hồng rực. Vì vậy, khi có những biểu hiện này, bạn hãy vứt bỏ đi, đừng tiếc mà gọt vỏ rồi ăn tiếp.
Minh Hoa (t/h)