Khoảng ngày 10–12 tháng 8 năm 30 TCN, Cleopatra VII qua đời tại Alexandria khi mới 39 tuổi. Cái chết của bà khép lại 21 năm trị vì và chấm dứt vương triều Ptolemaios đã cai trị Ai Cập gần ba thế kỷ. Phía sau hình ảnh người phụ nữ quyến rũ Julius Caesar và Marcus Antonius mà điện ảnh thường kể là một nhà cai trị có học vấn cao, biết nhiều ngôn ngữ, hiểu rất rõ sức mạnh của nghi lễ, hình ảnh và ngoại giao, đồng thời phải giữ một vương quốc giàu có nhưng ngày càng bị sức mạnh của Rome siết chặt.
Cleopatra VII Thea Philopator sinh năm 69 TCN tại Alexandria. Bà thuộc vương triều Ptolemaios có nguồn gốc Macedonia-Hy Lạp, bắt đầu từ Ptolemy I Soter, một vị tướng của Alexander Đại đế. Sau khi Alexander chết, đế chế khổng lồ của ông bị các tướng lĩnh chia nhau và Ptolemy kiểm soát Ai Cập, cuối cùng xưng vương. Gần ba trăm năm sau, Cleopatra sinh ra trong một triều đình vẫn sử dụng tiếng Hy Lạp và đặt trung tâm quyền lực tại Alexandria. Danh tính mẹ của bà đến nay chưa thể xác định chắc chắn. Điều rõ hơn nhiều là nền giáo dục của Cleopatra: tiếng Hy Lạp Koine là tiếng mẹ đẻ và các nguồn cổ mô tả bà có khả năng sử dụng nhiều ngôn ngữ. Bà nổi bật trong vương triều vì học cả tiếng Ai Cập, nhờ đó có thể giao tiếp với thần dân và giới tư tế bằng ngôn ngữ bản địa thay vì hoàn toàn phụ thuộc vào phiên dịch.
Cha bà, Ptolemy XII Auletes – “người thổi sáo” – cai trị trong tình trạng phụ thuộc ngày càng nặng vào Rome. Khi ông mất năm 51 TCN, Cleopatra khoảng 18 tuổi và cùng em trai Ptolemy XIII lên ngôi. Theo tập tục của vương triều, hai người được ghép thành một cặp đồng cai trị. Quan hệ nhanh chóng biến thành cuộc tranh giành quyền lực và Cleopatra bị buộc rời khỏi Alexandria. Đúng lúc ấy, cuộc nội chiến của Rome tràn tới Ai Cập. Pompey chạy sang đây sau khi thất bại trước Julius Caesar nhưng bị người của Ptolemy XIII sát hại. Caesar đến Alexandria và bị cuốn thẳng vào cuộc xung đột trong hoàng gia Ptolemaios. Cleopatra giành được sự ủng hộ của ông, Ptolemy XIII chết trong cuộc chiến sau đó và bà trở lại ngai vàng. Cleopatra tiếp tục đồng trị vì với người em Ptolemy XIV rồi với con trai Ptolemy XV Caesar, thường được gọi là Caesarion. Cleopatra tuyên bố Caesar là cha của đứa trẻ, mặc dù Caesar chưa bao giờ chính thức đưa Caesarion vào hàng thừa kế của mình.
Sau khi Caesar bị ám sát tại Rome năm 44 TCN, thế giới La Mã lại rơi vào nội chiến. Cleopatra trở về Ai Cập và phải tìm cách tồn tại giữa những người đang tranh nhau di sản chính trị của Caesar. Năm 41 TCN, bà gặp Marcus Antonius tại Tarsus. Cuộc gặp ấy vừa là ngoại giao vừa mở đầu cho một trong những mối quan hệ nổi tiếng nhất thời cổ đại. Cleopatra cần Antonius để bảo vệ vị thế của Ai Cập và khôi phục ảnh hưởng Ptolemaios ở phía đông Địa Trung Hải; Antonius cần tiền bạc, lương thực, tàu chiến và nguồn lực khổng lồ của Ai Cập cho những chiến dịch của mình. Họ trở thành tình nhân và có ba người con: cặp song sinh Alexander Helios, Cleopatra Selene II và Ptolemy Philadelphus.
Sự liên kết giữa Antonius và Cleopatra dần trở thành thứ vũ khí hoàn hảo cho Octavian, người con nuôi và người thừa kế của Caesar. Tại Rome, Octavian xây dựng hình ảnh đối thủ như một người La Mã đã bị một nữ vương phương Đông mê hoặc và phản bội truyền thống của mình. Cleopatra bị biến thành biểu tượng của xa hoa, dục vọng và mối đe dọa ngoại bang. Phần lớn hình ảnh “Cleopatra quyến rũ nguy hiểm” tồn tại hàng nghìn năm sau bắt nguồn từ môi trường tuyên truyền của những người chiến thắng trong cuộc đấu này.
Năm 31 TCN, hai phe đối đầu tại Actium ngoài khơi phía tây Hy Lạp. Hạm đội của Octavian dưới quyền Marcus Agrippa đánh bại lực lượng Antonius–Cleopatra. Hai người rút về Alexandria nhưng thời gian đã hết. Mùa hè năm 30 TCN, quân Octavian tiến vào Ai Cập. Antonius tự sát. Không lâu sau, Cleopatra cũng chết. Chúng ta không biết chính xác bà đã chết bằng cách nào. Câu chuyện con rắn độc – thường được gọi là asp – cắn vào ngực hoặc cánh tay nữ hoàng trở thành hình ảnh kinh điển trong hội họa và văn chương, nhưng các nguồn cổ cũng đề cập khả năng sử dụng độc dược. Không có thi thể để kiểm nghiệm và lăng mộ của Cleopatra cùng Antonius vẫn chưa được xác định chắc chắn.
Octavian cho xử tử Caesarion, loại bỏ người con trai có thể được sử dụng như một đối thủ mang danh “con của Caesar”. Ba người con của Cleopatra với Antonius được đưa về Rome. Cleopatra Selene II về sau kết hôn với Juba II của Mauretania và trở thành một nữ vương có ảnh hưởng tại Bắc Phi. Ai Cập bị sáp nhập vào hệ thống cai trị của Rome, trở thành một trong những vùng cung cấp ngũ cốc và của cải quan trọng nhất cho đế chế đang hình thành.
Điều đáng chú ý là Cleopatra mà chúng ta thường hình dung ngày nay phần lớn được tạo nên sau khi bà chết. Không ai biết chắc bà đẹp đến mức nào theo tiêu chuẩn hiện đại. Những đồng tiền mang chân dung Cleopatra cho thấy một khuôn mặt mạnh, mũi nổi bật và đường nét khá cứng. Plutarch, viết hơn một thế kỷ sau, lại nhấn mạnh sức hấp dẫn trong giọng nói, trí thông minh và khả năng trò chuyện của bà hơn là một vẻ đẹp thể chất phi thường. Cleopatra dường như hiểu rằng quyền lực không nằm riêng ở diện mạo. Bà biết xuất hiện đúng lúc, nói bằng ngôn ngữ của người đối diện, sử dụng nghi lễ Ai Cập khi cần và vận hành trong thế giới chính trị Hy Lạp–La Mã khi cần.
Bởi vậy, nhìn Cleopatra đơn giản như “người tình của Caesar và Antonius” là nhìn bà qua lăng kính của những người đàn ông đã viết phần lớn lịch sử còn truyền lại. Bà trị vì Ai Cập hơn hai thập kỷ trong thời kỳ Rome đang nuốt dần thế giới Địa Trung Hải, thương lượng trực tiếp với hai trong số những nhân vật quyền lực nhất thời đại và giữ vương quốc Ptolemaios tồn tại cho tới cuộc đối đầu cuối cùng với Octavian.
Cleopatra thất bại. Octavian chiến thắng, trở thành Augustus và mở ra thời đại hoàng đế La Mã. Nhưng có một nghịch lý mà hơn hai nghìn năm vẫn chưa xóa được: người chiến thắng chiếm Ai Cập, còn người phụ nữ ông đánh bại lại trở thành một trong những gương mặt được nhớ lâu nhất của thế giới cổ đại.
#Cleopatra #CleopatraVII #AncientEgypt #Egypt #Alexandria #PtolemaicEgypt #JuliusCaesar #MarkAntony #Octavian #Augustus #AncientRome #History #Archaeology
HERCULES VÀ NESSUS – CÁI CHẾT ĐÃ ĐƯỢC GIEO TỪ MỘT CHIẾN THẮNG.
Dưới mái vòm Loggia dei Lanzi, ngay bên Piazza della Signoria ở Florence, Hercules đang ghì nhân mã Nessus xuống đất. Một tay ông khóa chặt đối thủ, tay kia giơ cao chiếc chùy chuẩn bị tung đòn cuối cùng. Nessus quằn người, phần thân ngựa gần như khuỵu xuống. Đây là Ercole e il centauro Nesso – Hercules và nhân mã Nessus, tác phẩm bằng đá cẩm thạch của Giambologna, hoàn thành vào cuối thế kỷ XVI, thường được ghi niên đại khoảng năm 1599.
Giambologna, tên thật Jean de Boulogne, sinh tại Flanders nhưng dành phần lớn sự nghiệp ở Florence. Ông đặc biệt giỏi tạo chuyển động trong điêu khắc. Ở bức tượng này, cơ thể Hercules và Nessus xoắn vào nhau thành một khối căng thẳng: vai, cánh tay, lưng, chân người và chân ngựa đều hướng theo những đường khác nhau. Vì vậy tác phẩm không có một góc nhìn duy nhất. Đi vòng quanh nó, người xem lần lượt thấy sức nặng của Hercules, sự chống cự của Nessus rồi thế mất thăng bằng của nhân mã.
Câu chuyện được lấy từ thần thoại Hy Lạp. Hercules cùng vợ là Deianira phải vượt sông Evenus. Nessus làm công việc đưa khách qua sông và nhận chở Deianira sang bờ bên kia. Nhưng giữa đường, nhân mã tìm cách cưỡng đoạt nàng. Hercules nghe tiếng kêu cứu, giương cung bắn Nessus bằng một mũi tên đã được tẩm nọc độc của Hydra xứ Lerna.
Nessus biết vết thương sẽ giết mình. Trước khi chết, hắn nói với Deianira rằng máu của mình có khả năng giữ tình yêu của Hercules. Deianira tin lời và giữ lại số máu ấy. Nàng không biết máu Nessus đã bị nhiễm chất độc từ chính mũi tên Hercules vừa bắn.
Nhiều năm trôi qua. Khi Deianira lo rằng Hercules đã đem lòng yêu một người phụ nữ khác, nàng nhớ đến lời Nessus. Nàng tẩm máu nhân mã vào một chiếc áo rồi gửi cho chồng, nghĩ rằng đó là thứ có thể kéo tình yêu của Hercules trở lại. Khi Hercules mặc áo, chất độc bắt đầu tác động. Tấm vải bám vào cơ thể; càng cố kéo nó ra, da thịt càng bị tổn thương. Cơn đau trở nên dữ dội đến mức Hercules yêu cầu dựng giàn hỏa thiêu trên núi Oeta. Theo thần thoại, phần phàm nhân của ông chết trong ngọn lửa, còn Hercules được đưa lên Olympus.
Vì vậy, cảnh Giambologna chọn để tạc rất đắt giá. Hercules trông như người đã thắng: Nessus nằm dưới chân, chiếc chùy đã được giơ lên. Nhưng hậu quả của trận đánh ấy vẫn chưa kết thúc. Mũi tên Hercules dùng để giết Nessus khiến máu nhân mã nhiễm độc; chính thứ máu đó sau này quay trở lại giết ông. Nessus thua trong cuộc đấu bằng sức mạnh nhưng vẫn thực hiện được cuộc trả thù sau khi chết.
Bức tượng từng được đặt ở một số vị trí khác nhau tại Florence trước khi chuyển đến Loggia dei Lanzi vào thế kỷ XIX. Ngày nay, nó đứng giữa một nhóm tác phẩm điêu khắc nổi tiếng ngay giữa trung tâm thành phố, gần Perseus với đầu Medusa của Benvenuto Cellini và Vụ bắt cóc phụ nữ Sabine của chính Giambologna. Người qua Piazza della Signoria có thể bước vào Loggia và quan sát tác phẩm ở khoảng cách rất gần.
Biết câu chuyện của Nessus rồi nhìn lại bức tượng, tư thế chiến thắng của Hercules mang một ý nghĩa khác. Ông đang giơ chùy kết thúc cuộc đời kẻ thù, nhưng nguyên nhân dẫn đến cái chết của mình cũng đã xuất hiện trong chính cuộc đối đầu ấy. Nessus chết bởi mũi tên của Hercules; nhiều năm sau, Hercules chết bởi chất độc từ chính mũi tên đó.
Tháng 8 năm 480 TCN, tại một dải đất hẹp nằm giữa núi và biển ở miền trung Hy Lạp, vua Leonidas của Sparta cùng một đạo quân Hy Lạp nhỏ hơn rất nhiều đối phương chặn bước đại quân của Xerxes I. Họ biết mình đang đối đầu với một trong những đế chế hùng mạnh nhất thế giới cổ đại. Ba ngày sau, phòng tuyến Thermopylae bị phá vỡ, Leonidas tử trận và những người ở lại cùng ông gần như bị tiêu diệt. Về quân sự, đó là một thất bại. Nhưng hơn 2.500 năm sau, Thermopylae vẫn được nhắc đến như một trong những trận đánh nổi tiếng nhất lịch sử.
Mười năm trước đó, quân Ba Tư của Darius I đã thất bại tại Marathon. Xerxes I kế vị cha và chuẩn bị một cuộc xâm lược Hy Lạp với quy mô lớn hơn rất nhiều, huy động quân đội từ nhiều vùng của Đế quốc Achaemenid cùng một hạm đội khổng lồ. Con số chính xác đến nay vẫn gây tranh luận. Herodotus đưa ra những con số cực lớn mà phần lớn sử gia hiện đại không chấp nhận theo nghĩa đen; các ước tính ngày nay thường thấp hơn rất nhiều. Điều chắc chắn là lực lượng Ba Tư đông hơn quân phòng thủ Hy Lạp nhiều lần.
Người Hy Lạp hiểu rằng muốn chống lại ưu thế quân số ấy, họ phải tìm một nơi khiến số đông trở nên khó phát huy tác dụng. Thermopylae đáp ứng gần như hoàn hảo. Tên của nó có nghĩa là “Những cánh cổng nóng”, bắt nguồn từ các suối nước nóng trong khu vực. Địa hình thời cổ khác đáng kể so với ngày nay: núi Kallidromos tiến sát xuống biển, tạo thành một hành lang ven bờ rất hẹp. Ở một số đoạn, đội hình lớn gần như không thể triển khai. Quân Ba Tư có hàng chục nghìn người, nhưng khi bước vào khoảng hẹp ấy, họ buộc phải đối đầu trực diện với các hoplite Hy Lạp.
Leonidas đem theo 300 chiến binh Sparta được tuyển chọn, nhưng Thermopylae chưa bao giờ là trận chiến của riêng 300 người. Cùng họ có quân Thespiae, Thebes, Corinth, Phocis, Locris, Arcadia và nhiều thành bang khác, đưa lực lượng phòng thủ ban đầu lên khoảng 6.000–7.000 người. Riêng 300 chiến binh Sparta được Leonidas lựa chọn được cho là đều đã có con trai để duy trì gia đình nếu họ không trở về.
Vũ khí và cách chiến đấu của hoplite đặc biệt phù hợp với địa hình. Họ mang khiên lớn, áo giáp, mũ đồng và giáo dài, đứng sát nhau trong đội hình phalanx. Chiếc khiên của mỗi người vừa bảo vệ chính mình vừa che một phần người đứng cạnh. Trong không gian chật hẹp, đội hình ấy trở thành một bức tường khiên và mũi giáo. Quân Ba Tư có lợi thế về cung thủ, kỵ binh và khả năng cơ động trên địa hình rộng, nhưng nhiều ưu thế bị hạn chế khi phải tấn công chính diện trong một hành lang hẹp.
Xerxes ban đầu chờ đợi, có lẽ tin rằng quân Hy Lạp sẽ rút lui. Họ không rút. Theo Herodotus, khi người Ba Tư yêu cầu giao nộp vũ khí, Leonidas đáp bằng hai từ đã trở thành huyền thoại: “Molon labe” – Hãy đến mà lấy.
Khi giao chiến bắt đầu, các đợt quân Ba Tư lần lượt tiến vào khoảng hẹp. Người Medes và Cissians không phá được phòng tuyến. Xerxes sau đó tung lực lượng tinh nhuệ thường được gọi là Immortals – Bất tử, nhưng họ cũng không đạt được bước đột phá quyết định. Hoplite Hy Lạp có giáo dài hơn, giáp nặng hơn và đặc biệt thành thạo chiến đấu trong đội hình khép kín. Người Sparta còn sử dụng những động tác giả rút lui rồi bất ngờ quay lại, kéo đối phương khỏi đội hình trước khi phản kích.
Hai ngày trôi qua mà Thermopylae vẫn chưa bị xuyên thủng. Bước ngoặt đến từ một người địa phương tên Ephialtes. Ông ta tiết lộ cho người Ba Tư con đường núi Anopaia vòng qua vị trí phòng thủ và dẫn xuống phía sau quân Hy Lạp. Leonidas đã bố trí khoảng một nghìn quân Phocis bảo vệ tuyến đường này, nhưng lực lượng Ba Tư vượt qua được họ. Khi Leonidas nhận tin đối phương đang tiến xuống phía sau, trận đánh về cơ bản đã được định đoạt.
Ông cho phần lớn quân Hy Lạp rút đi. Chính lúc này câu chuyện về “300 người Sparta” thực sự bắt đầu. Leonidas và những người Sparta ở lại, nhưng bên cạnh họ còn khoảng 700 người Thespiae, những người được cho là tự nguyện chiến đấu đến cùng, cùng khoảng 400 người Thebes, dù hoàn cảnh và mức độ tự nguyện của nhóm Thebes vẫn còn được tranh luận. Những người Thespiae thường bị ký ức đại chúng bỏ quên, dù họ cũng gần như bị tiêu diệt toàn bộ.
Trong trận đánh cuối cùng, quân Hy Lạp rời vị trí phòng thủ chật hẹp hơn và tiến ra chiến đấu. Leonidas tử trận. Một cuộc giằng co dữ dội diễn ra quanh thi thể nhà vua trước khi những người còn sống rút về một gò đất phía sau bức tường Phocis. Khi giáo gãy, họ dùng kiếm; khi đội hình tan vỡ, cuộc chiến chuyển thành cận chiến. Cuối cùng, quân Ba Tư dùng tên bắn vào vị trí của những người còn kháng cự.
Thermopylae thất thủ. Con đường xuống miền trung Hy Lạp mở ra. Quân Xerxes tiến tới Athens, thành phố đã được phần lớn dân chúng sơ tán, rồi chiếm và đốt phá khu Acropolis. Nếu dừng câu chuyện ở đây, Thermopylae đơn giản là một chiến thắng của Ba Tư.
Nhưng chiến tranh chưa kết thúc. Cùng lúc Leonidas giữ Thermopylae, hạm đội Hy Lạp chiến đấu với Ba Tư tại Artemisium. Sau khi Thermopylae thất thủ, hạm đội rút về phía nam. Không lâu sau, Themistocles dụ hạm đội Ba Tư vào vùng nước hẹp tại Salamis, nơi ưu thế số lượng của Xerxes một lần nữa bị địa hình hạn chế. Người Hy Lạp giành chiến thắng lớn. Năm 479 TCN, quân Ba Tư còn lại dưới quyền Mardonius bị đánh bại tại Plataea, và cuộc xâm lược Hy Lạp của Xerxes chấm dứt.
Thermopylae vì thế không phải trận đánh “cứu Hy Lạp” theo cách đơn giản thường được kể. Thời gian mà Leonidas giữ được con đèo có giá trị quân sự, nhưng chiến thắng cuối cùng đến từ hàng loạt quyết định chiến lược, đặc biệt là sức mạnh hải quân Athens tại Salamis và chiến thắng trên bộ tại Plataea. Giá trị lớn nhất của Thermopylae nằm ở một nơi khác: nó cho thấy địa hình, đội hình, vũ khí và kỷ luật có thể thu hẹp đáng kể khoảng cách về quân số.
Sau trận đánh, ký ức về những người chết nhanh chóng trở thành một phần của văn hóa Hy Lạp. Tại Thermopylae từng có tấm bia mang câu thơ của Simonides, với ý nghĩa giản dị: “Hỡi người qua đường, hãy báo với người Sparta rằng chúng tôi nằm lại nơi đây, tuân theo luật của họ.”
Không nói về chiến thắng. Không nói rằng họ bất tử. Chỉ nói rằng họ đã ở lại.
Có lẽ chính vì thế Thermopylae tồn tại lâu đến vậy trong ký ức con người. Leonidas không thắng trận chiến ấy. 300 người Sparta cũng không chiến đấu một mình. Những con số khổng lồ được kể qua nhiều thế kỷ phần nào thuộc về huyền thoại. Nhưng phía sau huyền thoại vẫn còn một sự kiện có thật: vài nghìn người đã chọn một khe núi hẹp để đứng trước một đội quân lớn hơn rất nhiều, giữ nó trong ba ngày, và khi đường rút lui mở ra, một nhóm trong số họ quyết định ở lại.
Thermopylae là một thất bại. Nhưng có những thất bại khiến người đời phải nhớ tên những người đã thua.
Pane e Vino
Nhà thương Đồn Đất, tên chính thức là Bệnh viện Grall. Hồi sáng có người nhắc nên tui xin nói chi tiết hơn về cái nhà thương được xem là cổ nhất Sài Gòn vẫn còn hoạt động (hơn 160 năm)
Tiền thân của Bệnh viện Grall là Hôpital Militaire, tức Bệnh viện Quân Y của Pháp, thành lập năm 1862, sau khi quân Pháp kiểm soát Sài Gòn - Gia Định. Ban đầu, bệnh viện nằm gần góc Hai Bà Trưng - Lê Duẩn ngày nay, tức khu vực tòa nhà Kumho Asiana Plaza hiện nay, đối diện khu lãnh sự quán Pháp.
Lúc mới thành lập, Hôpital Militaire chủ yếu chữa trị cho lính Pháp đóng quân ở doanh trại gần đó. Tuy nhiên, bệnh viện cũng tiếp nhận một số binh lính và công chức người Việt làm việc cho chính quyền Pháp. Cơ sở vật chất ban đầu rất đơn sơ, chỉ có vài phòng bệnh nhỏ, cùng sự chăm sóc của các nữ tu Dòng Thánh Phaolô thành Chartres.
Đến thập niên 1870, bệnh viện được xây lại tại vị trí hiện nay, trên đường Lý Tự Trọng. Khu đất này có hai mặt giáp đường Lý Tự Trọng và Nguyễn Du. Các dãy nhà được xây theo kiểu kiến trúc Pháp, có hành lang rộng, mái cao, nhiều cây xanh và khoảng thoáng để tận dụng ánh sáng, gió trời. Một số dãy nhà cổ của bệnh viện vẫn còn tồn tại đến nay.
Nhà thương Grall là bệnh viện xưa nhất Sài Gòn bao quanh bởi bốn con đường Gia Long (trước là La Grandière, nay là Lý Tự Trọng), Hai Bà Trưng (thời Pháp là Nationale), Nguyễn Du (Taberd), Chu Mạnh Trinh (Lafont). Cổng chính phía đường Gia Long, có một con đường nhỏ dài chừng hơn 300 mét chạy thẳng vào tạo thành ngã ba. Con đường này được đặt tên là Hôpital từ khi người Pháp phá tan thành Gia Ðịnh, xây dựng một đồn lũy bằng đất trấn ngữ để bảo vệ bệnh viện nhỏ của quân đội (Hôpital Militaire) dựng lên vào năm 1862 ngay góc đường National và Norodom (Thống Nhất).
Sau đó vài năm, bệnh viện được xây dựng lại ngay trên mảnh đất của dinh đồn bằng đất (địa điểm trên đường La Grandière (Gia Long) tên bệnh viện chính thức vẫn là Hôpital Militaire. Đây là một trong những nhà thương được xây dựng đầu tiên sau khi Pháp chiếm Nam Kỳ. Nhà thương nghe bình dân hơn bệnh viện. Người bình dân, thậm chí người tri thức vẫn gọi nhà thương như vậy cho đến thời kỳ sau 1975 thì gọi là bệnh viện. Một vài ý kiến cho rằng, nhà thương chẳng qua do tấm lòng y đức của bác sĩ và các nhân viên y tá chăm sóc bệnh nhân tận tình thể hiện tình thương giữa người với người nên hai chữ nhà thương xuất hiện nhưng đó không phải là câu chuyện chính mà tôi muốn nói về nhà thương Grall. Grall (ngày nay là bệnh viện Nhi đồng 2) còn được gọi là nhà thương Ðồn Ðất trong thời Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Cộng Hoà. Nhà thương Ðồn Ðất ban đầu được xây dựng bằng khung sắt tiền chế, theo thiết kế của Trung Tá J. Varaigne, Giám Đốc ban thiết kế của Trung Đoàn Thủy Quân Lục chiến và phụ tá của ông, Ðại Úy AA Du Pommier. Bệnh viện do các bác sĩ người Pháp điều hành và điều trị cho binh lính và sĩ quan cũng như công chức thuộc địa Pháp – Việt.
Xem tài liệu hình ảnh các công trình xây dựng của người Pháp trong giai đoạn phát triển Sài Gòn vào những năm cuối và đầu thập niên 70 của thế kỷ 19, kiểu kiến trúc của bệnh viện Quân đội tương tự kiến trúc trại lính bộ binh của binh đoàn số 11 Caserne infanterie coloniale xây dựng trên đường Norodom (sau năm 1955 các trại lính này đổi tên Thành Cộng Hoà). Bệnh viện được lắp đặt thành những toà nhà liên kết các khung sắt thông qua những cầu nổi kết nối với nhau, mái hiên rộng, thoáng trên nền móng đá granit. Vật liệu xây dựng hầu hết được đem từ Pháp sang. Trong khuôn viên bệnh viện trồng nhiều cây xanh, nhất là những hàng me rợp bóng đến ngày nay vẫn còn một số khá nhiều so với những con đường từng nổi tiếng rợp lá me bay trong thơ ca như đường Duy Tân hiện nay chẳng hạn.
Nhà bác học nổi tiếng của Pháp Albert Calmette, học trò của nhà khoa học Louis Pasteur, điều hành phòng thí nghiệm của bệnh viện Quân đội này cho đến khi chính quyền Pháp thành lập Viện Pasteur (Pasteur-Institute) vào năm 1891 theo chỉ định của ông Louis Pasteur. Cơ sở này nằm trên đường Hôpital gần bệnh viện có nhiệm vụ nghiên cứu vaccine chống bệnh dại và bệnh đậu mùa, nghiên cứu các bệnh lý nhiệt đới, sản xuất huyết thanh chống nọc rắn hổ mang… Do có Viện Pasteur, nên vào năm 1897, con đường Hôpital đổi tên thành đường Pasteur cho phù hợp.
Tuy nhiên, do nhu cầu phát triển và nghiên cứu điều trị các bệnh dịch, Viện Pasteur cần được mở rộng, Viện Pasteur mới được xây dựng trên đường Pellerin vào năm 1905 (vị trí hiện nay) và sau đó còn có thêm Viện Pasteur Hà Nội rồi tiếp theo là Ðà Lạt. Và con đường Pellerin đổi tên thành Pasteur. Xin nói thêm, cũng vào năm 1905, do cơ sở y tế này dưới sự điều hành của bác sĩ Charles Grall, mở cửa chữa trị cho mọi thành phần, quân sự cũng như dân sự kể cả dân bản xứ. Ðến năm 1925, Bệnh viện quân đội trở thành bệnh viện đa khoa và đổi tên thành bệnh viện Grall, để vinh danh cựu Tổng Thanh tra Y tế Nam kỳ, bác sĩ Charles Grall.
Như vậy ở Sài Gòn có hai con đường mang tên Pasteur, một ngắn thuộc khu Bến Nghé quận 1 và một dài thuộc khu Tân Ðịnh quận 3. Mãi cho đến năm 1955, con đường Pasteur ở quận 1 mới được chính quyền thời Ðệ Nhất Cộng hoà đổi tên thành đường Ðồn Ðất và bệnh viện Grall đổi tên thành Nhà thương Ðồn Ðất theo tên gốc nhà thương tọa lạc trên mảnh đất của Ðồn Ðất, giống như Nhà thương Chợ Rẫy trên mảnh đất trồng rẫy của người Hoa Chợ Lớn vậy. Mặc dầu tên bệnh viện có thay đổi, người Pháp về nước nhưng dân chúng người Việt khá giả theo Tây học vẫn quen gọi là bệnh viện Grall, chỉ có người bình dân mới gọi là nhà thương Ðồn Ðất.
Về lịch sử hình thành và kiến trúc nhà thương là vậy, trong thời gian dài khi Pháp thành lập các bệnh viện quân đội ở Sài Gòn phải kể đến thêm bệnh viện Saint Paul ở đường Phan Thanh Giản (sau 1975 là Ðiện Biên Phủ). Bệnh viện này xây kiên cố bằng gạch và bê tông cốt thép. Nhưng xét ở góc độ lịch sử thì bệnh viện Grall hay Ðồn Ðất có nhiều điểm nổi bật và ghi nhớ hơn nhiều, nhất là trong các thời kỳ chiến tranh. Có thể đánh giá nhà thương Ðồn Ðất là một công trình kiến trúc văn hoá lịch sử cùng với các công trình khác do người Pháp xây dựng vào thời thuộc địa ban đầu.
Năm 1945, bệnh viện bị trúng bom đồng minh, phá sập các phòng thí nghiệm ở mạn bắc. Mặc dầu người Pháp thua trận Ðiện Biên Phủ, đầu hàng rút quân theo Hiệp định Genève năm 1954 nhưng chính phủ Pháp sau đó vẫn ký biên bản điều hành bệnh viện Grall, vì chính thể Ðệ Nhất Cộng Hoà lúc bấy giờ không đủ y bác sĩ. Mặt khác, Sài Gòn vẫn còn nhiều người Pháp sinh sống và làm ăn, Sài Gòn cần có một bệnh viện được trang bị y tế tốt như bệnh viện Grall từng có để phục vụ như một bệnh viện tư nhân quốc tế. Do vậy, dân Sài Gòn nghe nói tới bệnh viện Grall vẫn cho rằng bệnh viện của những người giàu có.
Hoàng đế Bảo Ðại từng vào Sài Gòn chữa trị vì bị gãy chân trong một cuộc đi săn ở Cao nguyên. Báo Ðông Tây hồi tháng 12/1938 đăng tin: “Ðức Hoàng đế Bảo Ðại bị nạn gãy chân trái. Tin điện hôm 15 Décembre bỗng bắn ra một tin dữ dội khiến ai nấy đều phải sửng sốt giật mình và chú ý đặc biệt tức là tin Ðức Bảo Ðại đi săn ở một Cao nguyên gần Ðà Lạt bị nạn gãy chân. Các viên đốc tờ y sĩ ở Ðà Lạt vội tới ngay chỗ bị nạn cứu chữa. Nhà nước được tin cũng vội phái máy bay lên đó, để định đưa ngay Hoàng đế về Sài Gòn điều trị. Nhưng vì gió to quá, máy bay không thể nào đỗ xuống được. Bất đắc dĩ phải bay về Ban Mê Thuột chờ đón Ngài tại đấy. Sau khi ô tô đưa Ngài đến, các nhân viên y tế liền đưa Ngài lên phi cơ bay thẳng về Sài Gòn. 13h30 máy bay đã đáp xuống trường bay Tân Sơn Nhất. Có một đội lính khố đỏ bồng súng và thổi kèn chào. Liền đó có ô tô đưa Ngài về bệnh viện Grall. Trong khi điều trị ở Sài Gòn Ngài sẽ ngự tại Phủ Toàn quyền”.
Thế nhưng sau này, trong hồi ký của mình Bảo Ðại có nhắc lại chuyện bị gãy chân. Té ra báo chí thêm thắt câu chuyện đi săn cho hợp tình hợp lý. “Trong một cuộc đá banh ở Ban Mê Thuột năm 1938, tôi sa chân vào một ổ kiến, nên bị ngã. Chân trái bị gãy khớp xương trên mắt cá. Lập tức tôi được máy bay đưa về Sài Gòn và đưa ngay vào bệnh viện Grall để chữa. Bác sĩ Ðại tá Roques đã mổ chỗ đau cho tôi, sau đó tôi được đưa vào dinh Thống đốc Nam Kỳ Robin, ở điện Norodom để dưỡng bệnh…”.
Câu chuyện tiếp theo là tôi lượm lặt trong Hồi ký Nhất Linh trong đoạn Khóc Bạn của Bùi Khánh Ðản. Nhất Linh tự vẫn vì dính líu chuyện đảo chính ông Diệm không thành. Ông đã sắp xếp chuyện ra đi vĩnh viễn của mình không để cảnh sát bắt. Tôi chỉ thắc mắc tại sao lúc đó, bạn bè chí cốt của ông sao không đưa vào bệnh viện An Bình gần đó cấp cứu mà phải đưa đến bệnh viện Grall. Từ An Ðông đến trung tâm Sài Gòn là một đoạn đường xa hơn nhiều so với các bệnh viện gần nhà. Chớ không phải để kết thúc ở bệnh viện Grall.
Nói chuyện này còn dài và nhiều tình tiết. Tôi khơi ra một chi tiết chỉ để suy luận một điều: Bệnh viện Grall thời Ðệ Nhất Cộng Hoà vẫn được người dân tin tưởng là một bệnh viện tốt nhất Sài Gòn.Bệnh viện Nhi Đồng 2 chính thức trở thành bệnh viện chuyên khoa nhi từ năm 1978.
Trang Nguyên