a

THƯƠNG CHÚC THẦY CÔ VÀ ANH CHỊ EM ĐỒNG MÔN TRƯỜNG HOÀNG DIỆU MỘT NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 AN LÀNH VÀ HẠNH PHÚC

b

b
CHÚC QUÝ THẦY CÔ VÀ ĐỒNG MÔN HOÀNG DIỆU NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 VẠN SỰ NHƯ Ý - AN KHANG THỊNH VƯỢNG.

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2026

Bắt được "quái ngư" nặng 572 kg dài hơn 3,35 m: Cần thủ vật lộn suốt 3 giờ mới đưa được lên thuyền

 Một chuyến câu cá ngoài khơi nước Mỹ bất ngờ trở nên khó quên khi cần thủ chạm trán "quái ngư" có kích thước vượt xa những gì ông từng gặp trước đó.

Cuộc giằng co 3 giờ với "quái ngư" hơn nửa tấn

Ngày 19/8/2026, thuyền trưởng Damon Sacco cùng cần thủ Walter Chapman và những người trên tàu Castafari thực hiện chuyến câu cá ngoài khơi bang Massachusetts, Mỹ.

Con tàu khi đó hoạt động tại Atlantis Canyon, một hẻm núi ngầm nằm ở rìa thềm lục địa, cách Cape Cod khoảng 160 km. Đây là vùng biển sâu mà những người câu cá thể thao thường tìm tới với hy vọng gặp các loài cá lớn.


Một chuyến câu cá ngoài khơi nước Mỹ bất ngờ trở nên khó quên khi cần thủ chạm trán "quái ngư" có kích thước vượt xa những gì ông từng gặp trước đó. (Ảnh: AP)

Chuyến đi ban đầu không có dấu hiệu gì quá đặc biệt. Nhưng khi một chiếc vây khổng lồ bất ngờ xuất hiện trên mặt nước, Sacco lập tức chú ý.

Kích thước của nó lớn đến mức người thuyền trưởng giàu kinh nghiệm ban đầu nghĩ rằng nhóm của mình đã gặp một con cá mập khổng lồ.

Chỉ khi nhìn kỹ hình dáng chiếc vây và màu xanh lóe lên bên dưới mặt nước, ông mới nhận ra sinh vật đang ở đầu dây câu là một con cá marlin xanh Đại Tây Dương có kích thước hiếm gặp.

Người trực tiếp chiến đấu với con cá bằng cần và dây câu là Walter Chapman, một cần thủ lâu năm đến từ Plymouth.

Ngay từ những phút đầu tiên, kích thước và sức mạnh của con cá đã biến cuộc câu thành màn giằng co kéo dài.

Chapman phải liên tục giữ dây, điều chỉnh lực kéo trong khi thuyền trưởng Sacco điều khiển tàu để hỗ trợ. Cuộc chiến với con cá kéo dài khoảng 3 giờ trước khi nhóm cuối cùng có thể khống chế nó và đưa tới sát tàu.

Cuộc chiến với con cá kéo dài khoảng 3 giờ trước khi nhóm cuối cùng có thể khống chế nó và đưa tới sát tàu. (Ảnh: AP)

Con cá thậm chí còn dùng phần mõm dài đặc trưng tạo ra vài lỗ trên phần đuôi tàu. Sacco sau đó gọi những dấu vết này là những "vết sẹo chiến đấu" để lại sau cuộc đối đầu.

Khi con cá được đưa trở về cảng Falmouth và đặt lên cân, những con số mới thực sự khiến mọi người sửng sốt.

Nó nặng 1.260 pound, tương đương khoảng 571,5 kg, tức gần 572 kg. Chiều dài của cá vượt 11 feet, tương đương hơn 3,35 m.

Với kích thước này, con cá được cho là một trong những cá marlin xanh Đại Tây Dương lớn nhất từng được đưa lên bờ ở khu vực bờ Đông nước Mỹ. Những người tham gia chuyến đi tin rằng nó thậm chí có thể là cá thể lớn nhất từng được ghi nhận tại khu vực này, dù việc xác lập kỷ lục còn cần được thẩm định chính thức.

Chỉ còn cách kỷ lục thế giới khoảng 64 kg

Điều khiến vụ bắt được con cá càng đáng chú ý là trọng lượng của nó không còn cách quá xa kỷ lục thế giới.

Theo AP, kỷ lục cá marlin xanh Đại Tây Dương được ghi nhận là con cá nặng 1.402 pound, bắt ngoài khơi Brazil năm 1992. Như vậy, con cá tại Massachusetts chỉ nhẹ hơn khoảng 142 pound, tương đương hơn 64 kg.

Tiến sĩ Walt Golet thuộc Đại học Maine cho biết việc xuất hiện một cá thể lớn như vậy ở vùng biển này là điều đặc biệt.

Cá marlin xanh là loài di cư và chỉ xuất hiện theo mùa tại vùng biển ngoài khơi đông bắc nước Mỹ. Nhiệt độ nước trong phần lớn thời gian của năm tại đây khá lạnh, khiến khoảng thời gian thuận lợi để gặp những con cá lớn tương đối ngắn.

Cá marlin xanh là loài di cư và chỉ xuất hiện theo mùa tại vùng biển ngoài khơi đông bắc nước Mỹ. (Ảnh: AP)

Dựa trên kích thước của cá, chuyên gia ước tính cá thể này có thể khoảng 25-30 năm tuổi. Phần đầu của con cá sau đó được chuyển tới phòng thí nghiệm của Đại học Maine để nghiên cứu nhằm xác định tuổi chính xác hơn.

Khi tàu Castafari quay trở lại Falmouth, thông tin về chiến lợi phẩm đặc biệt đã thu hút nhiều người tới khu vực cảng. Việc cân con cá trở thành một cảnh tượng gây chú ý bởi ngay cả những người có nhiều năm kinh nghiệm câu biển cũng hiếm khi được nhìn thấy một cá thể lớn như vậy.

Với Walter Chapman, đây cũng là con cá lớn nhất ông từng chiến đấu bằng cần câu trong suốt nhiều năm theo đuổi thú vui này.

Sau khi hoàn tất việc cân và kiểm tra, phần thịt cá được chia cho khoảng một chục người. Chapman cho biết khối lượng cá quá lớn nên đương nhiên ông không thể sử dụng hết một mình.

Còn với thuyền trưởng Damon Sacco, khoảnh khắc chiếc vây khổng lồ nhô lên khỏi mặt nước có lẽ sẽ rất khó quên. Từ việc tưởng mình đang đối mặt với cá mập, nhóm người cuối cùng phát hiện họ vừa chạm trán một "quái ngư" marlin xanh nặng gần 572 kg.

Sau khoảng 3 giờ giằng co trên vùng biển cách bờ hàng trăm kilomet, chuyến câu bình thường đã trở thành một trong những màn bắt cá đáng chú ý nhất tại bờ Đông nước Mỹ trong năm 2026.

Theo AP, On The Water, The Boston Globe

Các nhà khoa học phát hiện loài thằn lằn mới

Bảo tàng Lịch sử tự nhiên thuộc Đại học San Marcos ngày 3.10 thông báo các nhà khoa học đã phát hiện một loài thằn lằn mới tại vùng núi Andes thuộc Peru, theo AFP.

Loài thằn lằn mới nói trên có kích thước từ 6 đến 8 cm và sở hữu màu sắc đặc trưng tùy theo giới tính. Con cái có các đốm hình vuông trên lưng, trong khi con đực có các đốm xiên cùng lớp vảy màu trắng giúp chúng hòa lẫn với đá xung quanh.

Loài thằn lằn này ăn thực vật và các loài chân khớp nhỏ, bao gồm nhện, bọ cánh cứng và ấu trùng côn trùng.


Bức ảnh do Bảo tàng Lịch sử tự nhiên thuộc Đại học San Marcos tại Lima (Peru) công bố vào ngày 3.10 cho thấy loài thằn lằn mới được phát hiện

Ảnh: AFP

Loài thằn lằn mới này được tìm thấy ở độ cao hơn 4.800 m tại vùng Arequipa thuộc dãy Andes ở phía nam Peru và được đặt tên là Liolaemus archipensis. Phát hiện mới đã được công bố trên tạp chí khoa học Diversity (Thụy Sĩ).

"Việc mô tả một loài mới đánh dấu bước tiến rất quan trọng đối với sự đa dạng sinh học của đất nước chúng tôi", nhà sinh học Ling Huamani-Valderrama, đứng đầu nghiên cứu mới, chia sẻ với AFP. Nhà sinh học này cho biết thêm Peru là nơi sinh sống của 296 loài thằn lằn.

Theo tổ chức môi trường phi chính phủ Conservation International (có trụ sở tại Mỹ), một loài "chuột lưỡng cư" với bàn chân có màng một phần và chuyên ăn côn trùng thủy sinh nằm trong số 27 loài mới được phát hiện trong chuyến thám hiểm vùng Amazon thuộc Peru vào năm 2022.

Ông Trond Larsen, đứng đầu Chương trình Đánh giá nhanh của Conservation International, cho hay các nhà khoa học còn phát hiện thêm một loài chuột gai, một loài sóc, 8 loài cá, 3 loài lưỡng cư và 10 loài bướm.

Ông Larsen cho biết thêm có 48 loài khác được nhóm nghiên cứu tìm thấy có khả năng là loài mới, nhưng cần được nghiên cứu thêm.

Vào tháng 7.2025, các nhà cổ sinh vật học tại sa mạc Ocucaje của Peru đã công bố bộ xương hóa thạch của một sinh vật cổ đại có hình dáng giống cá heo, ước tính có niên đại từ 8-12 triệu năm, theo AFP.

Văn Khoa


                                             Cá mập lớn vào cảng, người Hàn Quốc vui buồn xem giải cứu


Quan tài giấy trong mộ cổ ở Trung Quốc hé lộ kho tư liệu quý thời nhà Đường

Chiếc quan tài làm từ giấy cũ ở Tân Cương (Trung Quốc) không chỉ gây bất ngờ về hình thức, mà còn lưu giữ tư liệu quý về quân sự, hành chính thời nhà Đường.

Tại khu mộ cổ Asta-na ở Tân Cương (Trung Quốc), các nhà khảo cổ đã bất ngờ phát hiện một hiện vật đặc biệt: Đó là một chiếc quan tài được tạo nên từ giấy cũ thay vì gỗ. Quan tài này được tìm thấy trong ngôi mộ số 506 và gắn với người đã khuất được xác định là Trương Vô Giá, một quân nhân từng phục vụ tại khu vực Tây Châu dưới thời nhà Đường.

Trương Vô Giá từng giữ chức Du kích tướng quân và tham gia nhiều hoạt động quân sự tại khu vực Tây Vực. Ông được cho là đã lập công trong các chiến dịch liên quan đến Thạch Quốc, Cửu Quốc Hồ và Đột Kỵ Thi. Một văn bản được tìm thấy trong mộ cũng ghi nhận việc ông được triều đình trao chức vụ sau khi lập công.

Thoạt nhìn, việc một vị tướng được an táng trong quan tài giấy khiến nhiều người đặt ra nhiều câu hỏi. Trong quan niệm truyền thống, gỗ thường được sử dụng để chế tác quan tài, trong khi giấy cũ bị xem là vật liệu bỏ đi. Tuy nhiên, nghiên cứu khảo cổ sau đó cho thấy giá trị thực sự của chiếc quan tài này không nằm ở vật liệu cấu thành, mà ở những tài liệu được sử dụng để dán lên bộ khung quan tài.

Chiếc quan tài làm từ giấy cũ ở Tân Cương không chỉ gây bất ngờ về hình thức, mà còn lưu giữ nhiều tư liệu quý về quân sự, hành chính thời nhà Đường. Ảnh: @Sohu.

Chiếc quan tài được tạo bằng những thanh gỗ nhỏ làm khung, sau đó phủ nhiều lớp giấy cũ. Tư liệu khảo cổ cho biết quan tài có hình dạng đặc biệt, không có đáy riêng; khi mai táng, thi thể được đặt trên một tấm chiếu rồi phần quan tài giấy được úp lên phía trên.

Điều đáng chú ý nhất là số giấy được sử dụng để làm quan tài không phải loại giấy mới được chế tạo riêng cho việc mai táng. Nhiều mảnh giấy vốn là những tài liệu hành chính đã qua sử dụng. Trên đó còn lưu lại chữ viết, sổ sách và những nội dung liên quan đến hoạt động của chính quyền và quân đội cổ xưa ở Tây Châu.

Các tài liệu được phát hiện trên quan tài đề cập đến nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong đó có bản thảo tấu trình gửi triều đình, thư từ giữa các đơn vị quân đội, thông tin về nhân lực, huấn luyện, trang bị và việc phân bổ lương thực. Một số tư liệu còn liên quan đến hoạt động của các trạm dịch và đời sống xã hội đương thời.

Chính những nội dung này đã biến một chiếc quan tài tưởng như bình thường thành nguồn tư liệu đặc biệt quan trọng. Nếu một tài liệu chính thức thường chỉ phản ánh một sự kiện hoặc một hoạt động cụ thể, thì tập hợp giấy cũ trên quan tài lại cho thấy nhiều mặt của đời sống Tây Châu, từ tổ chức quân đội, hậu cần, hành chính cho đến giao tiếp giữa các cơ quan.

Tại khu mộ cổ Asta-na ở Tân Cương (Trung Quốc), các nhà khảo cổ đã bất ngờ phát hiện một hiện vật đặc biệt: Đó là một chiếc quan tài được tạo nên từ giấy cũ thay vì gỗ. Ảnh: @Sohu.

Giá trị của hiện vật vì thế không chỉ nằm ở tuổi đời. Những mảnh giấy còn sót lại cung cấp thêm dữ liệu để nghiên cứu hoạt động của nhà Đường tại Tây Vực, một khu vực có vị trí quan trọng trên tuyến giao thương và quân sự nối Trung Nguyên với Trung Á.

Trong điều kiện khí hậu khô nóng đặc trưng của Tân Cương, nhiều di vật hữu cơ trong các ngôi mộ nơi đây còn được bảo quản tương đối tốt. Chính môi trường khô hạn này góp phần giúp thi thể và những vật liệu bằng giấy tồn tại suốt qua nhiều thế kỷ.

Về nguyên nhân xuất hiện quan tài giấy, các nguồn được dẫn lại đưa ra những cách giải thích khác nhau. Một cách lý giải cho rằng khu vực Tây Châu khan hiếm gỗ lớn, khiến việc chế tạo quan tài gỗ gặp khó khăn. Trong hoàn cảnh đó, việc tận dụng vật liệu sẵn có để làm quan tài có thể là giải pháp thực tế. Một số nguồn khác lại cho rằng hoàn cảnh kinh tế của gia đình Trương Vô Giá về cuối đời có thể liên quan đến hình thức mai táng này.

Trương Vô Giá từng giữ chức Du kích tướng quân và tham gia nhiều hoạt động quân sự tại khu vực Tây Vực. Ông được cho là đã lập công trong các chiến dịch liên quan đến Thạch Quốc, Cửu Quốc Hồ và Đột Kỵ Thi. Ảnh: @Sohu.

Điều quan trọng là không nên nhìn chiếc quan tài giấy đơn thuần như biểu hiện của sự nghèo khó hay một hình thức an táng bất thường. Qua góc nhìn khảo cổ, chính vật liệu tưởng như không có giá trị ấy lại giúp bảo tồn những văn bản có giá trị nghiên cứu lớn. Nếu không được sử dụng làm vật liệu đóng quan tài và chôn trong môi trường khô hạn, nhiều tài liệu cổ có thể đã biến mất từ lâu.

Chiếc quan tài vì vậy trở thành một trường hợp đặc biệt cho thấy giá trị của di vật khảo cổ đôi khi nằm ở những chi tiết rất nhỏ. Một mảnh giấy cũ, một dòng chữ mờ hay một bản ghi hành chính tưởng như bình thường đều có thể cung cấp thông tin về đời sống của con người cách đây hơn một thiên niên kỷ.

Mộ cổ chứa quan tài đầy nước, hé lộ bảo vật lưu ly dát vàng đặc biệt

Quan tài ngập nước trong ngôi mộ Tây Hán ở Sơn Đông (Trung Quốc) giúp giới khảo cổ phát hiện nhiều hiện vật quý, trong đó có chiếc “ngọc tịch” lưu ly dát vàng.

Quan tài đầy nước sau gần 2.000 năm

Năm 2017, trong quá trình khai quật cứu hộ một quần thể mộ Hán tại làng Tô Sơn Đồn, khu Tây Hải Ngạn, thành phố Thanh Đảo, tỉnh Sơn Đông (Trung Quốc), các nhà khảo cổ phát hiện một ngôi mộ đặc biệt mang ký hiệu M147.

Ngay khi mở quan tài, nhóm khảo cổ nhận thấy bên trong còn tồn tại một lượng nước lớn. Điều đáng chú ý là nước tương đối trong, giúp nhiều hiện vật nằm dưới đáy quan tài vẫn có thể quan sát được. Môi trường kín và thiếu oxy trong thời gian dài cũng góp phần bảo vệ một số di vật và phần hài cốt của chủ nhân tốt hơn so với nhiều ngôi mộ cùng khu vực.

M147 thuộc quần thể mộ Tô Sơn Đồn, có niên đại Tây Hán. Hồ sơ khảo cổ cho biết ngôi mộ được bảo quản tương đối tốt nhờ lớp đất sét bao phủ. Tổng cộng 271 hiện vật tùy táng được phát hiện, trong đó có ba con dấu và 11 thẻ gỗ.

Sự đặc biệt của M147 không chỉ nằm ở tình trạng bảo tồn mà còn ở thân phận và hệ thống đồ tùy táng của người được chôn cất.

Trong quá trình khai quật cứu hộ một quần thể mộ Hán tại làng Tô Sơn Đồn, khu Tây Hải Ngạn, thành phố Thanh Đảo, tỉnh Sơn Đông (Trung Quốc), các nhà khảo cổ phát hiện một ngôi mộ đặc biệt mang ký hiệu M147. Ảnh: @Sohu.

Một trong những manh mối quan trọng nhất để xác định danh tính chủ nhân là con dấu bằng đồng khắc tên “Lưu Tứ”. Hai con dấu khác có nội dung liên quan đến chức vụ huyện lệnh Đường Ấp và Tiêu huyện.

Các tư liệu nghiên cứu cho thấy, Lưu Tứ từng giữ chức huyện lệnh tại hai địa phương này. Đây là chức vụ hành chính địa phương, không phải quan chức đứng đầu triều đình. Chính sự chênh lệch giữa chức vụ được xác định và quy mô đồ tùy táng đã khiến ngôi mộ trở thành vấn đề đáng chú ý đối với giới nghiên cứu.

Một số nhà nghiên cứu cho biết, Lưu Tứ có thể là hậu duệ của hoàng thất nhà Hán và chưa chắc đã được phong tước chính thức. Tuy nhiên, đây vẫn là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, không nên khẳng định tuyệt đối chỉ dựa trên những hiện vật được tìm thấy.

Điều chắc chắn hơn là quy mô và chất lượng đồ tùy táng cho thấy chủ nhân có địa vị xã hội và điều kiện kinh tế đáng kể.

Sự đặc biệt của mộ M147 không chỉ nằm ở tình trạng bảo tồn mà còn ở thân phận và hệ thống đồ tùy táng của người được chôn cất. Ảnh: @Sohu.

“Ngọc tịch” thực chất làm bằng lưu ly

Hiện vật nổi bật nhất trong M147 là một chiếc ngọc tịch lưu ly. Nó được đặt bên dưới thi thể chủ nhân, có chiều dài khoảng 194 cm và rộng 46 cm.

Chiếc ngọc tịch được tạo thành từ hơn 330 mảnh lưu ly ghép lại. Các mảnh chủ yếu có dạng vuông, ngoài ra còn có hình tròn và hình thoi. Trên bề mặt xuất hiện các hoa văn như long văn, hổ văn và văn hình thị đế; một số khu vực được phủ lá vàng. Bốn góc mỗi mảnh đều có lỗ nhỏ để luồn dây và liên kết thành một tấm ngọc tịch hoàn chỉnh.

Điểm đáng chú ý là vật liệu này không phải ngọc tự nhiên. Bảo tàng Tây Hải Ngạn xác định đây là lưu ly chì-bari được chế tác nhân tạo. Trong quan niệm mai táng thời Hán, loại vật liệu này được sử dụng như một dạng “ngọc” trong hệ thống đồ táng bằng ngọc.

Chi tiết này có ý nghĩa quan trọng đối với việc hiểu văn hóa mai táng thời Hán. Người xưa tin rằng ngọc có khả năng bảo vệ thi thể và giúp duy trì trạng thái nguyên vẹn sau khi chết. Vì vậy, việc sử dụng các vật liệu dạng ngọc trong mộ không chỉ mang ý nghĩa trang trí mà còn gắn với quan niệm về cái chết và thế giới bên kia.

Hiện vật nổi bật nhất trong M147 là một chiếc ngọc tịch lưu ly. Nó được đặt bên dưới thi thể chủ nhân, có chiều dài khoảng 194 cm và rộng 46 cm. Ảnh: @Sohu.

Vì sao chiếc ngọc tịch lại được dát vàng?

Hoa văn trên ngọc tịch lưu ly có hình rồng và hổ, trong đó một số chi tiết được phủ vàng. Chính đặc điểm này khiến hiện vật thường được gọi bằng tên khác là “kim long ngọc tịch”. Tuy nhiên, xét về mặt vật liệu học, cách gọi này dễ gây hiểu nhầm. Đây không phải một chiếc tịch được làm hoàn toàn bằng ngọc và cũng không phải “kim long” theo nghĩa một vật thể bằng vàng. Phần lõi là các mảnh lưu ly được tạo hình, sau đó một số hoa văn được phủ lá vàng.

Bảo tàng Tây Hải Ngạn cho biết, chiếc ngọc tịch được xem là một loại đồ táng bằng lưu ly, thuộc hệ thống mai táng bằng ngọc thời Hán. Những hiện vật tương tự từng được phát hiện tại một số khu vực khác của Trung Quốc và thường liên quan đến các nhân vật thuộc tầng lớp quý tộc hoặc hoàng gia.

Hệ thống đồ tùy táng hé lộ địa vị chủ nhân

Ngoài chiếc ngọc tịch lưu ly, M147 còn có nhiều hiện vật khác. Đáng chú ý là các con dấu giúp xác định danh tính và chức vụ của người được chôn cất.

Một trong những manh mối quan trọng nhất để xác định danh tính chủ nhân là con dấu bằng đồng khắc tên “Lưu Tứ”. Hai con dấu khác có nội dung liên quan đến chức vụ huyện lệnh Đường Ấp và Tiêu huyện. Ảnh: @Sohu.

Việc tìm thấy con dấu mang tên Lưu Tứ cùng các con dấu liên quan đến chức huyện lệnh cung cấp bằng chứng trực tiếp để nghiên cứu thân phận của chủ nhân. Đây là phương pháp quan trọng trong khảo cổ học: thay vì chỉ dựa vào quy mô ngôi mộ hoặc sự xa hoa của đồ tùy táng, các nhà nghiên cứu có thể kết hợp văn tự trên hiện vật, cấu trúc mộ và hệ thống đồ vật để xác định danh tính.

Một số nghiên cứu cho rằng, Lưu Tứ có thể thuộc hậu duệ hoàng thất nhưng chưa được phong tước. Nếu giả thuyết này đúng, nó phần nào giải thích vì sao một người chỉ được biết đến với chức huyện lệnh lại có hệ thống đồ táng khá đặc biệt.

Tuy nhiên, đây vẫn là một giả thuyết học thuật. Các hiện vật hiện có chưa đủ để khẳng định chắc chắn Lưu Tứ thuộc cấp bậc quý tộc nào.

Thiên Đăng theo Sohu

Khu vườn độc nhất vô nhị trong Tử Cấm Thành

Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh (Trung Quốc) được xây dựng từ thời nhà Minh, là quần thể kiến trúc gỗ lớn nhất và được bảo tồn tốt nhất thế giới.

Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh (Trung Quốc) được xây dựng từ thời nhà Minh, là quần thể kiến trúc gỗ lớn nhất và được bảo tồn tốt nhất thế giới. Trải qua hàng trăm năm, nơi đây vẫn ẩn chứa nhiều câu chuyện kỳ bí.

Năm 1925, Bảo tàng Cố Cung được thành lập trong khuôn viên Tử Cấm Thành. Đặc biệt, nhân dịp kỷ niệm 100 năm vào tháng 10/2025, khu vườn Càn Long lần đầu mở cửa, thu hút đông đảo du khách. Đây được xem là khu vườn tinh xảo và đẹp bậc nhất trong toàn bộ quần thể.


Được xây dựng vào những năm 1770, khu vườn Càn Long là một phần của Cung An Cư Trường Thọ ở phía đông bắc Tử Cấm Thành, theo thông tin trên trang web chính quyền Bắc Kinh. Dù chỉ mất 5 năm để hoàn thành, khu vườn đã bị đóng cửa gần 1 thế kỷ.

Sau đó, trong khuôn khổ hợp tác giữa Bảo tàng Cố Cung và Quỹ Di tích Thế giới (WMF), quá trình trùng tu khu vườn đã diễn ra trong 25 năm, với tổng chi phí ước tính từ 15-18 triệu USD.

Bên trong Vườn Càn Long, hòn non bộ được thiết kế tạo ra nhiều lớp không gian.

Khu vườn nằm bí ẩn ở phía đông bắc Tử Cấm Thành, từng là chốn nghỉ ngơi riêng tư của Hoàng đế Càn Long. Công trình đã đóng cửa suốt một thế kỷ và hoàn tất trùng tu sau hơn 20 năm hợp tác giữa Bảo tàng và Quỹ Di tích Thế giới.

Khu vườn Càn Long có diện tích hơn 6.000 m2, được mô tả là tinh xảo và lộng lẫy bậc nhất trong toàn bộ quần thể. Khác với không gian rộng lớn thể hiện quyền uy ở các điện chính, khu vườn được thiết kế theo phong cách vườn miền Nam Trung Quốc, chia thành bốn sân nối tiếp. Hiện, khách có thể tham quan hai khu đầu tiên.

Tử Cấm Thành là nơi mà nhiều triều đại vua chúa Trung Quốc sinh sống.

Tử Cấm Thành được xây dựng vào thế kỷ 15 dưới triều Minh, là nơi làm việc và sinh sống của hoàng đế cùng gia đình. Sau này, triều Thanh tiếp quản và trùng tu, mở rộng nhiều hạng mục. Năm 1925, khi vị hoàng đế cuối cùng Phổ Nghi rời khỏi cung, khu vực này trở thành Cố Cung hay Bảo tàng Cung điện (Palace Museum). Tuy nhiên, các dự án tu bổ quy mô phải nhiều thập niên sau mới được triển khai.

Tử Cấm Thành nổi tiếng không chỉ bởi vẻ đẹp mà còn ở những giai thoại bí ẩn mà đến nay các nhà khoa học vẫn chưa tìm được lời giải thích.

Dù đã hơn 600 năm tuổi, trải qua hơn 200 trận động đất, Tử Cấm Thành vẫn không bị ảnh hưởng. Các nhà khảo cổ đã phân tích kiến trúc của Tử Cấm Thành sau đó tiến hành dựng mô hình và thử nghiệm mô phỏng một trận động đất lên tới 10,1 độ richter. Dù cường độ động đất rất lớn, biên độ rung lắc của mô hình lớn khiến cho các viên gạch của Tử Cấm Thành sụp đổ tuy nhiên phần khung vẫn rất bền vững.

Không chỉ gây kinh ngạc bởi quy mô và những bí ẩn chưa lời giải, Tử Cấm Thành còn cho thấy trình độ kỹ thuật vượt thời đại của người xưa. Kết cấu khung gỗ linh hoạt, có khả năng “giãn chấn” chính là chìa khóa giúp công trình đứng vững trước các rung lắc cực mạnh.

Đến nay, sau hơn 6 thế kỷ, Tử Cấm Thành vẫn là biểu tượng kiến trúc vĩ đại của nhân loại, minh chứng cho trí tuệ và sự tinh xảo hiếm có trong lịch sử xây dựng cổ đại.

danviet.vn










Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2026

Hai nhà nghiên cứu nhận định con người đang bước vào một cuộc chuyển dịch tiến hóa chưa từng có!

 Một nghiên cứu gây chấn động cho rằng văn hóa đang soán ngôi sinh học để tái định hình nhân loại. Liệu chúng ta có đang biến thành siêu sinh vật như loài kiến, hay đây chỉ là phỏng đoán quá đà trước những phản biện đanh thép hiện nay?

Một cuộc tranh luận khoa học gay gắt đang nổ ra xung quanh bản chất tiến hóa của loài người, bắt nguồn từ giả thuyết đầy khiêu khích của hai nhà nghiên cứu Timothy Waring và Zachary Wood thuộc Đại học Maine.

Trong công trình công bố trên tạp chí BioScience vào năm 2025, hai tác giả đưa ra nhận định táo bạo: loài người dường như đang bước vào một khúc quanh lịch sử, nơi tiến hóa văn hóa phát triển vượt bậc và dần thay thế tiến hóa sinh học trong việc định hình sự sống còn của giống loài.

Theo lập luận của Waring và Wood, những hệ thống văn hóa do con người kiến tạo - bao gồm kỹ thuật canh tác, thiết chế luật pháp, y tế và thành tựu công nghệ - sở hữu khả năng giải quyết các thách thức thích nghi với tốc độ thần tốc mà đột biến gen đơn thuần không thể nào theo kịp. Hãy nhìn vào những can thiệp y tế điển hình như việc đeo kính mắt hay kỹ thuật mổ đẻ.

Đây là các giải pháp mang tính văn hóa thuần túy nhưng có thể can thiệp trực tiếp vào kết quả sinh học, làm thay đổi hoặc thậm chí nới lỏng áp lực của chọn lọc tự nhiên mà không cần đợi đột biến gen lan truyền qua vô số thế hệ.

Tiến trình này không diễn ra đột ngột mà đã âm thầm tích lũy hàng nghìn năm kể từ cuộc cách mạng nông nghiệp, song hiện nay nó đang tăng tốc tới mức các giải pháp văn hóa thường xuyên đi trước một bước so với sự thích nghi di truyền.

Văn hóa vượt trội và đi trước chọn lọc tự nhiên: Các hệ thống văn hóa như y tế (kính mắt, sinh mổ), thể chế và công nghệ thích nghi với môi trường nhanh hơn đột biến gen, làm thay đổi hoặc nới lỏng chọn lọc tự nhiên.

Điểm gây chấn động nhất trong học thuyết của hai nhà nghiên cứu là nhận định rằng nhân loại có thể đang dịch chuyển thành một "siêu sinh vật" văn hóa. Khi mỗi cá nhân ngày càng phụ thuộc mật thiết vào mạng lưới công nghệ, thể chế và hệ thống hợp tác chung, đơn vị thích nghi trọng tâm trong tiến hóa có thể không còn là từng con người riêng lẻ mà chuyển dịch sang cấp độ tập thể.

Tương tự như cách các tế bào đơn lẻ hợp nhất để tạo nên cơ thể đa bào, hay cách hàng vạn cá thể trong tổ ong, tổ kiến vận hành như một khối thống nhất, các nhóm người được tổ chức chặt chẽ theo văn hóa đang thể hiện những đặc tính thích nghi tập thể rõ rệt thông qua sự phân công lao động phức tạp và cơ sở hạ tầng dùng chung.

Tuy nhiên, tuyên bố đầy tham vọng này ngay lập tức vấp phải sự phản bác quyết liệt từ giới nghiên cứu học thuật. Vào tháng 10 năm 2025, nhà nghiên cứu Nejad Kourki đã công bố một bài viết phản biện chuyên gia, trực tiếp nhắm vào việc gán ghép khung lý thuyết "chuyển dịch tiến hóa ở cấp độ cá thể" (ETI) cho các xã hội loài người.

Kourki chỉ rõ rằng trong sinh học, một cuộc chuyển dịch cá thể thực thụ không chỉ dừng lại ở sự phụ thuộc hay phân công lao động, mà tập thể mới được hình thành bắt buộc phải có khả năng tự sinh sản và trực tiếp tham gia vào chọn lọc tự nhiên ở cấp độ cao hơn. Các xã hội, quốc gia hay thể chế của con người hoàn toàn không sở hữu chức năng sinh sản tự chủ cấp độ nhóm này.

Do đó, việc một cấu trúc xã hội vận hành giống sinh vật không đồng nghĩa với việc nó đã biến thành một cá thể tiến hóa mới như tổ kiến hay động vật đa bào.

Luận điểm về siêu sinh vật văn hóa: Sự phụ thuộc sâu rộng vào công nghệ, thể chế và hợp tác nhóm khiến xã hội loài người có xu hướng biến thành một "siêu sinh vật" tập thể tương tự đàn kiến, đàn ong hay các tế bào trong cơ thể đa bào.

Trước làn sóng phản biện, nhóm nghiên cứu tại Đại học Maine nỗ lực lập luận rằng cơ chế kế thừa văn hóa có thể tích lũy thông tin thích nghi ở cấp độ nhóm mà không cần đến chọn lọc di truyền kiểu cũ.

Họ chỉ ra các kỹ thuật chỉnh sửa gen và công nghệ hỗ trợ sinh sản hiện đại như bằng chứng cho thấy văn hóa đang bắt đầu can thiệp sâu vào phương thức duy trì giống nòi. Dẫu vậy, chính Waring và Wood cũng phải thừa nhận viễn cảnh tương lai về một siêu sinh vật hoàn chỉnh hiện vẫn mang đậm tính suy đoán và nằm ngoài năng lực chứng minh của khoa học đương đại.

Tính xác thực của giả thuyết này càng trở nên mong manh khi xét đến các dữ liệu thực nghiệm. Trong chương trình nghiên cứu năm 2026 tại Viện Konrad Lorenz, chính Waring đã thừa nhận các bằng chứng thực nghiệm định lượng về sự chuyển dịch tiến hóa ở người hiện còn rất hạn hẹp.

Những hiện tượng xã hội quen thuộc như mức sinh sụt giảm, hệ thống y tế mở rộng hay sự phức tạp hóa của thể chế hoàn toàn có thể được soi chiếu dưới nhiều góc độ xã hội học khác nhau, thay vì quy chụp là biểu hiện của một cuộc chuyển dịch tiến hóa bao trùm.

Khả năng kiểm chứng còn hạn chế: Các tác giả thừa nhận viễn cảnh siêu sinh vật mang tính suy đoán; nghiên cứu thực nghiệm năm 2026 của Waring tại Viện Konrad Lorenz cho thấy các hiện tượng xã hội phức tạp hiện nay có thể giải thích bằng nhiều nguyên nhân khác.

Đặc biệt, các tác giả nhấn mạnh không được đánh đồng tiến hóa với sự ưu việt về mặt đạo đức. Xã hội sở hữu công nghệ cao hơn tuyệt đối không đồng nghĩa với việc "tiến hóa hơn" hay công bằng hơn. Cuộc tranh luận vẫn chưa thể ngã ngũ: liệu nhân loại có thực sự đang bước vào một cuộc chuyển dịch cá thể vô tiền khoáng hậu, hay siêu sinh vật rốt cuộc chỉ là một phép ẩn dụ văn học đang bị gượng ép gánh vác chiếc áo quá rộng của sinh học tiến hóa?

Đức Khương, Đời sống & Pháp luật


ROMAN FORUM – NƠI QUYỀN LỰC LA MÃ TỪNG DỒN LẠI, RỒI BỊ CHÔN DƯỚI NHIỀU THẾ KỶ
Đứng trên đồi Capitoline nhìn xuống Roman Forum hôm nay, người ta thấy những hàng cột gãy, nền móng, vòm đá, những đoạn đường cũ và các khối cẩm thạch nằm rải giữa cỏ. Khung cảnh ấy rất yên, đến mức khó hình dung nơi này từng là một trong những khu vực bận rộn nhất của Rome cổ đại, nơi chính trị, tôn giáo, pháp luật, thương mại và các nghi lễ công cộng cùng diễn ra trong một không gian khá chật hẹp.
Forum hình thành trong một vùng trũng giữa các đồi Palatine, Capitoline và Esquiline. Thuở đầu, khu vực này ẩm thấp và dễ ngập. Người La Mã dần cải tạo mặt đất, xây hệ thống thoát nước, mở đường rồi biến nơi đây thành trung tâm công cộng của thành phố. Qua nhiều thế kỷ, các thế hệ cầm quyền liên tục dựng thêm đền thờ, basilica, cổng khải hoàn, tượng đài và các công trình hành chính, khiến Forum ngày càng dày đặc.
Ở đây có Curia Julia, nơi Thượng viện họp; Temple of Saturn, gắn với kho bạc nhà nước; Temple of Vesta, nơi các Vestal gìn giữ ngọn lửa thiêng; Basilica Julia và Basilica Aemilia, nơi diễn ra xét xử và giao dịch; cùng những cổng khải hoàn như Titus và Septimius Severus. Mỗi công trình giữ một chức năng riêng, nhưng tất cả đều nằm trong cùng một mạng lưới không gian mà người dân Rome đi qua mỗi ngày.
Via Sacra chạy xuyên Forum là tuyến đường quan trọng nhất trong khu vực. Những đoàn triumph của các vị tướng chiến thắng từng đi qua đây với quân lính, chiến lợi phẩm, tù binh và biểu tượng của những vùng đất bị chinh phục. Cũng trên con đường ấy, người dân đến tòa án, gặp thương nhân, dự lễ, nghe diễn thuyết hoặc đơn giản đi từ khu này sang khu khác của thành phố.
Forum không biến mất ngay sau sự sụp đổ của Đế chế Tây La Mã. Quá trình ấy diễn ra chậm hơn nhiều. Một số công trình tiếp tục được sử dụng, số khác được cải biến thành nhà thờ Kitô giáo, kho chứa hoặc nơi ở. Nhiều đền thờ mất chức năng, nhưng vật liệu của chúng lại trở nên rất hữu ích cho Rome thời Trung Cổ.
Cẩm thạch bị tháo khỏi mặt tiền, kim loại được lấy khỏi mái, những khối đá tốt được mang đi xây nhà thờ, cung điện và các công trình mới. Một cột từng đứng trong basilica cổ có thể trở thành vật liệu của một nhà thờ nhiều thế kỷ sau. Rome không bỏ hoàn toàn quá khứ của mình; thành phố tái sử dụng nó.
Cùng lúc đó, địa hình Forum bắt đầu thay đổi. Vì nằm thấp hơn các khu vực xung quanh, thung lũng này dần tích tụ đất, bùn, phế tích và vật liệu sụp đổ. Mặt đất nâng lên từng thế kỷ, che lấp phần dưới của nhiều công trình. Có nơi những cột và chân đế bị chôn sâu đến mức người thời sau chỉ còn thấy phần trên nhô khỏi mặt đất.
Arch of Septimius Severus là một ví dụ rõ. Trước khi các cuộc khai quật hiện đại giải phóng toàn bộ cấu trúc, phần chân cổng từng nằm sâu dưới lớp đất tích tụ. Người Rome nhiều thế kỷ sau vẫn đi ngang qua những tàn tích cổ, nhưng không còn nhìn thấy chúng trong hình dạng nguyên thủy.
Đến thời Trung Cổ và đầu thời cận đại, khu vực Forum đã mất hẳn chức năng cũ. Nhiều phần được dùng làm vườn, đường đi, khu chăn thả và đất canh tác. Cái tên Campo Vaccino – Cánh đồng Bò xuất hiện từ đó. Những bản khắc và tranh vẽ từ thế kỷ XVI đến XVIII cho thấy bò gặm cỏ giữa những cột cổ, người dân đi qua đường đất, cây cối mọc quanh những mảnh kiến trúc từng thuộc về các đền thờ và basilica.
Một trong những khu vực từng tập trung quyền lực của Rome cổ đại vì thế đã trở thành một khoảng đất nông nghiệp nằm ngay giữa thành phố.
Từ thời Phục Hưng, giới học giả và nghệ sĩ bắt đầu quan tâm mạnh hơn đến di tích La Mã. Nhưng lúc ấy, nhiều công trình cổ vẫn được nhìn như nguồn vật liệu hơn là đối tượng khảo cổ cần bảo tồn. Phải đến thế kỷ XVIII và đặc biệt thế kỷ XIX, Forum mới dần được khai quật có hệ thống.
Sau khi Rome trở thành thủ đô của nước Italy thống nhất năm 1870, công việc khảo cổ được đẩy mạnh hơn. Các lớp đất tích tụ hàng thế kỷ được bóc dần để tìm lại mặt đường, nền đền, bậc thềm và các cấu trúc cổ. Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, những cuộc khai quật sâu rộng tiếp tục làm lộ ra phần lớn không gian mà du khách nhìn thấy hiện nay.
Điều này cũng có nghĩa Roman Forum hôm nay là kết quả của rất nhiều lựa chọn khảo cổ. Để đưa các lớp La Mã cổ xuống thấp trở lại ánh sáng, nhiều lớp Trung Cổ và cận đại từng tồn tại trên cùng khu đất đã bị tháo bỏ hoặc di chuyển. Vì vậy, Forum hiện tại không phải một cảnh quan được giữ nguyên từ thời Caesar hay Augustus, mà là một không gian được khai quật, phục dựng, nghiên cứu và sắp xếp lại trong nhiều giai đoạn.
Các khoảng trống giữa những cột và phế tích hôm nay cũng dễ gây hiểu lầm. Rome cổ không hề thoáng như vậy. Forum từng dày đặc công trình. Đền, basilica, tượng, cầu thang, hàng cột, cửa hàng và các tuyến đường nằm sát nhau, trong khi đám đông liên tục di chuyển giữa chúng.
Những hình phục dựng thường giúp hình dung rõ hơn mật độ ấy: cẩm thạch sáng, mái đền, tượng đồng, cột cao, bậc thềm và người đi lại gần như kín không gian. So với hiện tại, sự khác biệt không chỉ nằm ở việc công trình đã mất đi, mà còn ở cách cả khu vực từng vận hành như một phần sống động của thành phố.
Roman Forum trải qua một hành trình rất dài: từ vùng trũng, thành khu trung tâm công cộng, rồi dần mất chức năng, bị tháo dỡ, phủ đất, biến thành Campo Vaccino và cuối cùng được khai quật trở lại. Những cột đá đứng lẻ loi hôm nay vì thế không kể câu chuyện về một thành phố biến mất trong một ngày. Chúng kể về nhiều thế kỷ thay đổi, khi Rome cũ bị Rome mới hấp thụ dần, từng khối đá một.


Sông băng cuối cùng ở Đông Nam Á có thể biến mất trong hai năm tới


Những sông băng nhiệt đới cuối cùng ở Đông Nam Á có thể biến mất chỉ trong hai năm tới sau nhiều thập kỷ thu hẹp vì Trái Đất nóng lên.

Sông băng thường gợi đến những vùng cực hoặc núi cao lạnh giá, nhưng chúng vẫn tồn tại trên một số dãy núi đủ cao ở khu vực nhiệt đới nóng ẩm.

Khoảng 95% sông băng nhiệt đới trên thế giới nằm ở dãy Andes, tập trung chủ yếu trên những ngọn núi của Peru và kéo dài về phía bắc tới Ecuador, Colombia.

Ở châu Phi, sông băng trên cao nguyên Stanley, nằm gần biên giới Cộng hòa Dân chủ Congo và Uganda, đã mất khoảng 30% diện tích bề mặt kể từ năm 2020. Sự suy giảm nhanh chóng này đang đe dọa nguồn nước của các cộng đồng địa phương.


Mảng băng nhỏ còn sót lại trên sườn núi Puncak Jaya, Indonesia. (Ảnh: Google Earth)

Tại Đông Nam Á, băng nhiệt đới hiếm hơn nhiều. Những mảng băng cuối cùng còn sót lại nằm trên dãy Sudirman ở vùng Papua, phần thuộc lãnh thổ Indonesia. Đây là những sông băng nhiệt đới duy nhất còn tồn tại trong khu vực.

Một trong số đó là sông băng Carstensz, nằm trên một nhánh của đỉnh Puncak Jaya cao 4.884 m. Người dân địa phương từ lâu gọi lớp băng nơi đây là “tuyết vĩnh cửu”, đồng thời coi nó mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc.

Khoảng 100 năm trước, băng tồn tại quanh năm trên cả 4 đỉnh của dãy núi. Hiện chỉ còn hai mảng băng.

Tính từ thế kỷ 19 đến nay, diện tích băng trên Puncak Jaya đã giảm từ khoảng 1.900 ha xuống chỉ còn 16 ha. Riêng từ năm 2002, lượng băng được cho là đã giảm khoảng 95%.

“Băng sẽ biến mất. Vấn đề không phải là có hay không, mà là khi nào” , Klaus Thymann, nhà thám hiểm người Đan Mạch từng lập bản đồ những sông băng cuối cùng ở Papua, nói với The Guardian . “Và thời điểm đó đang đến rất, rất gần” .

Ông Thymann cảnh báo sự biến mất của lớp “tuyết vĩnh cửu” cho thấy con người có thể làm thay đổi một cảnh quan tưởng như tồn tại mãi mãi chỉ trong khoảng thời gian rất ngắn nếu xét trên thang thời gian địa chất.

Các nhà khoa học dự báo phần băng còn lại có thể biến mất hoàn toàn chỉ trong hai năm tới.

Nguyên nhân tương tự tình trạng đang xảy ra với nhiều sông băng trên thế giới. Khí hậu ấm lên do hoạt động đốt nhiên liệu hóa thạch khiến độ cao mà nước có thể đóng băng ngày càng dịch chuyển lên phía trên sườn núi.

Cuối cùng, ranh giới này có thể lên cao tới mức không còn địa hình đủ lạnh để băng hình thành và duy trì.

Nhiệt độ tăng cũng khiến lượng giáng thủy rơi xuống dưới dạng mưa nhiều hơn thay vì tuyết. Nước mưa làm băng tan nhanh hơn và có thể khiến sông băng mất ổn định, thậm chí sụp đổ.

Hiện tượng này được cho là một trong những yếu tố góp phần vào vụ sông băng sụp đổ nghiêm trọng ở Nepal và trận lũ sau đó vào cuối tháng 8.

Tương lai của những mảng băng cuối cùng tại Papua càng trở nên mong manh khi El Niño trên Thái Bình Dương tiếp tục mạnh lên. Nếu xu hướng hiện tại duy trì, cảnh quan từng được người dân địa phương gọi là “tuyết vĩnh cửu” có thể sớm chỉ còn trong ký ức.

Theo Hoa Vũ / VTC News


13.000 năm trước, con người đã săn loài thú khổng lồ này ở Chile

Xương mang dấu cắt và công cụ đá được tìm thấy bên một hồ cổ cho thấy gomphothere từng trở thành thức ăn của con người.

Khoảng 13.000 năm trước, vùng hồ Tagua Tagua ở miền trung Chile là nơi sinh sống của nhiều loài động vật lớn mà ngày nay đã tuyệt chủng. Trong số đó có gomphothere, họ hàng xa của voi hiện đại với cơ thể đồ sộ và những chiếc ngà dài.

Những cuộc khai quật trong hai năm gần đây cho thấy con người cũng đã xuất hiện bên hồ vào thời điểm đó. Các nhà khảo cổ tìm thấy nhiều xương động vật nằm cùng công cụ bằng đá, trong đó một số xương gomphothere còn mang những vết cắt do con người tạo ra.

Minh họa các loài thú từng sinh sống quanh hồ Tagua Tagua cổ đại ở Chile. Ảnh: Mauricio Álvarez.

Các dấu vết cho thấy những nhóm săn bắt hái lượm đã xẻ thịt gomphothere tại đây. Xương và công cụ được xác định có niên đại khoảng 12.000 - 13.000 năm, cung cấp thêm bằng chứng về sự hiện diện rất sớm của con người ở miền nam Nam Mỹ.

Gomphothere từng phân bố rộng ở châu Mỹ trước khi tuyệt chủng. Chúng có họ hàng với voi nhưng hình dáng khá đa dạng, một số loài sở hữu cặp ngà dài nổi bật. Với kích thước lớn, một cá thể có thể cung cấp lượng thịt đáng kể cho những cộng đồng săn bắt hái lượm thời đó.

Đây cũng không phải lần đầu tiên dấu vết con người xuất hiện bên cạnh xương thú lớn ở Tagua Tagua. Trước đó, các nhà khảo cổ từng tìm thấy tại khu vực này xương của những loài ngựa và hươu bản địa nay đã tuyệt chủng. Một số mẫu có vết cắt hoặc dấu hiệu bị đốt, cho thấy chúng từng được con người xử lý và có thể dùng làm thức ăn.

Nhà khảo cổ Carlos Tornero bên phần còn lại của một cá thể gomphothere tại khu vực khai quật. Ảnh: First Human Steps in South America, Walking Among Gonfoteriums Project Team.

Số lượng hiện vật thu được trong đợt khai quật mới khá lớn. Ngoài xương động vật và công cụ đá, các nhà khảo cổ còn tìm thấy tàn tích thực vật được bảo tồn trong lớp trầm tích của hồ cổ.

Theo nhóm nghiên cứu, việc nhiều loại dấu tích cùng xuất hiện tại một nơi có thể giúp tái hiện khá chi tiết cuộc sống của những cộng đồng đầu tiên ở khu vực này.

Các bằng chứng hiện có cũng cho thấy bờ hồ không chỉ được con người ghé qua một lần. Những nhóm săn bắt hái lượm dường như đã nhiều lần quay trở lại đây, có thể vì nguồn nước cùng lượng động thực vật phong phú khiến Tagua Tagua trở thành địa điểm thuận lợi để kiếm thức ăn.

Niên đại của khu vực đặc biệt đáng chú ý vì nó nằm trong giai đoạn con người mới bắt đầu hiện diện rộng hơn ở cực nam châu Mỹ.

Một trong những địa điểm khảo cổ lâu đời nhất được xác nhận tại Nam Mỹ là Monte Verde, cũng nằm ở Chile và có niên đại khoảng 14.500 năm. Ngoài ra còn có Huaca Prieta ở Peru và Arroyo Seco ở Argentina, đều lưu giữ bằng chứng con người từ khoảng 14.000 năm trước.

Các dấu tích tại Tagua Tagua trẻ hơn đôi chút nhưng đã cho thấy những người sống ở Nam Mỹ thời kỳ đầu đã thích nghi với môi trường và khai thác các loài thú khổng lồ ra sao.