a

THƯƠNG CHÚC THẦY CÔ VÀ ANH CHỊ EM ĐỒNG MÔN TRƯỜNG HOÀNG DIỆU MỘT NĂM MỚI GIÁP THÌN AN LÀNH VÀ HẠNH PHÚC

b

b
CHÚC QUÝ THẦY CÔ VÀ ĐỒNG MÔN HOÀNG DIỆU NĂM GIÁP THÌN VẠN SỰ NHƯ Ý - AN KHANG THỊNH VƯỢNG.

Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2021

Về Huế tìm nơi lưu giữ dấu ấn triều đại vàng son.

 Vùng đất cố đô lưu giữ nhiều kiến trúc cổ với niên đại nghìn năm thu hút du khách ghé thăm để tìm lại một thời đã qua.

Ôm vào lòng chiều dài lịch sử dân tộc, cố đô Huế mang trong mình sự bình lặng vốn có của một miền di sản thiêng liêng. Du khách đến Huế không chỉ thưởng thức cảnh đẹp lãng mạn, thơ mộng mà còn muốn tìm hiểu về những vết tích còn lại của Đại Nội Huế, chốn cung đình xưa cũ của triều đại cuối cùng ở Việt Nam.

Nằm bên dòng sông Hương, nơi đây là một trong số các di tích thuộc cụm Quần thể di tích Cố đô Huế, được UNESCO công nhận Di sản Văn hóa Thế giới. Tới đây, bạn sẽ tìm thấy nhiều dấu ấn đặc sắc của triều đình nhà Nguyễn từ hàng trăm năm trước

Đại Nội Huế bao gồm Hoàng Thành (nơi vua thiết triều và làm việc) và Tử Cấm Thành (nơi sinh hoạt của vua và hoàng tộc). Là công trình có quy mô đồ sộ nhất trong lịch sử Việt Nam, Đại Nội Huế có quá trình xây dựng kéo dài 30 năm với hàng vạn người thi công cùng hàng loạt các công việc như lấp sông, đào hào, đắp thành...

Khối lượng đất đá xây dựng được ước tính hàng triệu mét khối. Trải qua bao thăng trầm và biến cố, công trình kiến trúc Đại Nội Kinh thành Huế vẫn còn vẹn nguyên và trở thành điểm du lịch hút khách hàng đầu của miền đất cố đô.

Lăng tẩm các vị Hoàng đế là nơi bạn nên đặt chân đến một lần để cảm nhận sự uy nghiêm một thời kỳ. Tới lăng Khải Định, du khách sẽ được chiêm ngưỡng nghệ thuật tạo hình sành sứ và thủy tinh.

Lăng Minh Mạng, còn gọi là Hiếu lăng, do vua Thiệu Trị cho xây dựng từ năm 1840-1843 để chôn cất vua cha Minh Mạng. Lăng nằm trên núi Cẩm Khê, gần ngã ba Bằng Lãng. Đây là nơi hội lưu của hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch hợp thành sông Hương, cách cố đô Huế 12 km.

Lăng Tự Đức được chính vua Tự Đức cho xây dựng khi còn tại vị. Trong quần thể công trình kiến trúc này, nơi chôn cất vua Tự Đức ở một thung lũng hẹp, nay là thôn Thượng Ba, phường Thủy Xuân, thành phố Huế. Lúc mới xây dựng, lăng có tên Vạn Niên Cơ, sau đó đổi thành Khiêm Cung.

au khi vua Tự Đức mất, lăng được đổi tên thành Khiêm Lăng. Công trình có kiến trúc cầu kỳ, phong cảnh sơn thủy hữu tình và là một trong những lăng tẩm đẹp nhất của vua chúa nhà Nguyễn.


Đến với Huế, bạn sẽ được quay ngược quá khứ, lạc vào chốn cung đình cổ xưa, tìm về giá trị nhân văn và lắng lại một thời đại lịch sử vàng son đúng nghĩa.

Theo Zing

Độc đáo bảo vật quốc gia Cửa võng tại đình làng Thổ Hà ở Bắc Giang

Cửa võng ở đình Thổ Hà thuộc làng Thổ Hà, xã Vân Hà (huyện Việt Yên, Bắc Giang) được chạm khắc công phu, tinh xảo trên từng thớ gỗ, có giá trị về nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển nghề gốm. Cửa võng này vừa được công nhận bảo vật quốc gia.

Cử võng trong đình làng Thổ Hà được công nhận bảo vật quốc gia

Cửa võng đình làng Thổ Hà làm bằng chất liệu gỗ sơn son thếp vàng và gốm. Cửa võng được tạo tác vào khoảng giai đoạn 1685-1692, với chiều cao 4,9m và chiều rộng 4,3m.


Cửa võng đình làng Thổ Hà được công nhận bảo vật quốc gia

Cửa võng đình làm Thổ Hà chia làm 3 tầng. Các tầng của cửa võng được chạm khắc cầu kỳ với biểu tượng tứ linh, tứ quý. Phần chính của cửa võng là 3 khám thờ.

Cửa võng được chia làm tầng

Tầng trên cùng của cửa võng

Tầng giữa của cửa võng

Tầng 3 của cửa võng

Khám thờ của cử võng làm theo kiểu 8 lớp lồng vào nhau, mặt ngoài có khung gờ chạm cánh sen và 6 cột nhỏ chạm rồng. Xen kẽ giữa các khám là 4 bức đố chạm tứ quý. Những trang trí trên bộ cửa võng chủ yếu mang phong cách nghệ thuật thời Lê (thế kỷ XVII).

Khánh thờ của cửa võng

Cửa võng đình làng Thổ Hà là hiện vật gốc độc bản có giá trị lịch sử, văn hóa tiêu biểu. Trong nội dung bia đá "Thủy tạo đình miếu bi" lưu giữ tại đình Thổ Hà có niên hiệu Chính Hòa thứ 13 (1692) cho thấy, cửa võng được tạo tác vào thời điểm xây dựng đình giai đoạn 1685-1692 nên đảm bảo tính xác thực về nguồn gốc.

Hình rồng của cửa võng được chạm khác tinh sảo

Mặt khác, hiện vật còn là đại diện cho một trong số những cửa võng có kích thước lớn (cao: 4.9m, rộng 4.3m), với những mảng chạm cầu kỳ, lộng lẫy, cùng những dấu tích quan trọng có giá trị về nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển nghề gốm của cả nước nói chung, vùng đất Thổ Hà nói riêng.

Cửa võng đình làng Thổ Hà còn là hiện vật có hình thức độc đáo. Ngoài những mảng trang trí tinh xảo trên từng thớ gỗ, qua bàn tay khéo léo và tư duy sáng tạo, các nghệ nhân dân gian đã lồng ghép thêm các chi tiết trang trí bằng chất liệu gốm.


Cửa võng có sự kết hợp hài hòa giữ chất liệu gỗ và gốm

Điều đặc biệt là hai chất liệu gỗ và gốm đã kết hợp với nhau hài hòa tạo ra những mảng trang trí vô cùng tinh mĩ, công phu tạo cho cửa võng có hình thức trang trí nghệ thuật độc đáo, duy nhất tại cửa võng đình Thổ Hà hiện nay.

Cửa võng đình Thổ Hà đại diện cho đỉnh cao nghệ thuật chạm khắc gỗ kết hợp sơn thếp giai đoạn thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII-XVIII). Điều đó được thể hiện thông qua chủ đề trang trí, thủ pháp kỹ thuật chạm khắc điêu luyện, kết hợp sơn thếp gỗ tinh xảo, cùng tư duy sáng tạo của các nghệ nhân dân gian xưa gửi gắm vào từng mảng trang trí tại cửa võng đình Thổ Hà.

Cửa võng là đỉnh cao cho nghệ thuật chạm khắc gỗ

Đình Thổ Hà là một ngôi đình nổi tiếng của xứ Kinh Bắc, một công trình kiến trúc quy mô trên một khu đất rộng 3.000 m² được xây dựng vào năm 1692 thời vua Lê Hy Tông.

Đình làng Thổ Hà

Đình Thổ Hà tiêu biểu cho không gian tâm linh, văn hóa của người Việt với nét kiến trúc đặc trưng, đình có quy mô lớn, kết cấu kiến trúc tương đối hoàn chỉnh. Các mảng chạm khắc thể hiện phong cách thời Lê rõ nét, độc đáo. Ðề tài thể hiện trên các cấu kiện kiến trúc chủ yếu là “tứ linh, tứ quý” hoa lá cách điệu, chim thú và con người.

Nguyễn Thắng