Quan sát của triết gia vĩ đại về Trái Đất đã chính xác từ 2.400 năm trước.
Trong tác phẩm Timaeus viết vào khoảng năm 360 trước Công nguyên, triết gia Hy Lạp cổ đại Plato từng đưa ra một giả thuyết gây tranh cãi rằng Trái Đất được cấu tạo từ các khối lập phương. Suốt hàng nghìn năm, ý tưởng này bị xem là sự suy diễn mang tính biểu tượng hoặc tâm linh hơn là khoa học thực tiễn. Tuy nhiên, một nghiên cứu mang tính đột phá được công bố trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences đã chứng minh rằng trực giác của Plato chính xác đến mức kinh ngạc dưới góc nhìn của toán học và địa chất học hiện đại.
Tượng triết gia vĩ đại Plato, người sống cách đây khoảng 2.400 năm ở Athens (Hy Lạp)
Các nhà khoa học từ Đại học Pennsylvania, Đại học Eötvös Loránd và Đại học Debrecen đã sử dụng các mô hình toán học và hình học tiên tiến để phân tích hình dạng của các mảnh đá trên khắp hành tinh. Họ phát hiện ra rằng khi bất kỳ loại đá nào bị vỡ ra một cách tự nhiên do các tác động vật lý như xói mòn hay va đập, các mảnh vỡ có xu hướng tạo thành những hình dạng mà về mặt thống kê trung bình là khối lập phương.
Nghiên cứu bắt đầu bằng cách sử dụng các mô hình máy tính để cắt ngẫu nhiên một thực thể ba chiều thành nhiều phần khác nhau. Sau đó, nhóm nghiên cứu so sánh kết quả này với hàng nghìn mảnh đá thực tế được thu thập từ tự nhiên, từ các mỏ đá cho đến các mảnh vụn nhỏ nhất. Kết quả cho thấy cho dù đó là những tảng đá khổng lồ bị nứt vỡ do băng giá hay các hạt sỏi bị mài mòn, hình dạng hình học cơ bản của chúng luôn hội tụ về những khối sáu mặt có tính chất tương đồng với khối lập phương.
Dù thế nào mọi thứ đều là khối lập phương
Điều này có nghĩa là tầm nhìn của Plato về cấu trúc của thế giới không chỉ là triết học trừu tượng. Trong hệ thống các khối đa diện đều của mình, Plato tin rằng mỗi nguyên tố cơ bản của vũ trụ gắn liền với một hình khối nhất định, trong đó khối lập phương đại diện cho Đất vì tính ổn định bền vững của nó. Khoa học hiện đại giờ đây xác nhận rằng nếu chúng ta chia nhỏ lớp vỏ Trái Đất thành những phần cơ bản nhất, chúng thực sự tuân theo trật tự hình học mà ông đã mô tả từ hơn 2300 năm trước.
Khám phá này không chỉ minh oan cho một trong những bộ óc vĩ đại nhất lịch sử mà còn mở ra cách nhìn mới về cách các hệ thống địa chất trên hành tinh chúng ta vận hành. Nó cho thấy toán học và hình học là ngôn ngữ nền tảng thực sự của tự nhiên, giống như cách mà các triết gia cổ đại đã từng tin tưởng. Trái Đất không đơn thuần là một quả cầu hỗn độn của đá và đất, mà là một tập hợp có trật tự được xây dựng từ những hình khối hình học cơ bản và đồng nhất nhất.
Lòng hồ đầy "tàu ma" ở Mỹ
Khu vực Ngũ Đại Hồ có từ 6.000 đến 10.000 xác tàu đắm, phần lớn vẫn chưa được tìm thấy
Từ những lời kể mơ hồ, “tàu ma” F.J. King cuối cùng cũng lộ diện sau 140 năm chìm trong bão dữ ở hồ Michigan, ngoài khơi bang Wisconsin - Mỹ. Đó là kết quả sau gần 50 năm nỗ lực tìm kiếm của Hội Lịch sử Wisconsin và Hiệp hội Khảo cổ học dưới nước Wisconsin.
Nhóm do nhà nghiên cứu Brendon Baillod dẫn dắt gần đây tiết lộ xác "tàu ma" được tìm thấy ngoài khơi Baileys Harbor, một thị trấn khoảng 280 người trên bán đảo Door thuộc bang Wisconsin. Đây là phần mũi đất nhô ra hồ Michigan, tạo nên hình dạng "ngón tay cái" đặc trưng của bang này.
Ảnh gốc trong bộ sưu tập của chuyên gia Brendon Baillod cho thấy tàu F.J. King chỉ có 2 cột buồm và chỉ được lắp thêm cột buồm thứ 3 không lâu trước khi bị đắm. Ảnh: Hội Lịch sử Wisconsin
Giải mã "tàu ma" F.J. King
Tàu chở hàng 3 cột buồm mang tên F.J. King dài gần 44 m, được đóng năm 1867 tại TP Toledo thuộc bang Ohio - Mỹ, chuyên dùng vận chuyển ngũ cốc và quặng sắt.
Nhóm nghiên cứu cho hay F.J. King gặp bão dữ giữa đêm khuya khiến tàu chìm ngoài khơi bán đảo Door ngày 15-9-1886, tức sau khoảng 19 năm hoạt động. Khi đó, con tàu đang chở quặng sắt từ Escanaba, bang Michigan tới Chicago, bang Illinois - Mỹ.
Bão lớn tạo ra những con sóng cao tới 3 m, làm bục các mối nối thân tàu. Sau nhiều giờ bơm nước, thuyền trưởng William Griffin ra lệnh cho thủy thủ đoàn xuống xuồng cứu sinh mang theo.
Hình ảnh mô phỏng 3D F.J. King cho thấy phần mũi tàu bị hư hại khi chìm xuống đáy hồ Michigan, còn phần đuôi bị thổi bật trong cơn bão. Ảnh: Hội Lịch sử Wisconsin
Con tàu cuối cùng chìm phần mũi trước vào khoảng 2 giờ sáng, phần nhà boong phía đuôi bị thổi bay trong cơn bão, hất tung giấy tờ của thuyền trưởng Griffin lên không trung hàng chục mét.
Thời điểm đó, một chiếc tàu buồm đi ngang qua đã hỗ trợ thủy thủ đoàn và đưa họ về thị trấn Baileys Harbor.
Từ thập niên 1970, rất nhiều nhóm đã cố gắng tìm kiếm tung tích F.J. King nhưng không mang lại kết quả, do những mâu thuẫn về lời kể vị trí khi con tàu đắm.
Thuyền trưởng Griffin báo cáo con tàu chìm cách Baileys Harbor khoảng 8 km, trong khi người gác hải đăng nói đã thấy cột buồm của tàu trồi lên khỏi mặt nước gần bờ hơn.
Ngư dân cũng nhiều lần khẳng định lưới của họ từng kéo lên các mảnh vỡ của con tàu.
Các nhóm săn xác tàu sau đó lùng sục khắp khu vực nhưng đều tay trắng. Vì thế, theo thời gian, F.J. King trở thành một huyền thoại trong cộng đồng săn tìm xác tàu đắm ở bang Wisconsin.
"Chúng tôi thực sự muốn vén màn bí ẩn này nhưng cũng từng nghĩ sẽ không làm được" – đài CNN dẫn lời nhà sử học hàng hải Baillod cho biết.
Chuyên gia Baillod tin rằng do trong đêm tối nên thuyền trưởng Griffin khi đó có thể không biết chính xác vị trí tàu chìm. Ông vạch ra khu vực rộng 5,17 km² quanh vị trí do người gác hải đăng cung cấp và tiến hành tìm kiếm.
Nhóm sử dụng công nghệ sonar, bất ngờ phát hiện một vật thể dài khoảng 42,6 m, cách vị trí người gác hải đăng nêu ra chưa đầy 0,8 km và hóa ra đó chính là tàu F.J. King.
"Một vài người trong chúng tôi phải véo nhau để tin đó là thật"- chuyên gia Baillod hồ hởi - "Con tàu trước đó dường như đã biến mất không dấu vết. Qua bao lần tìm kiếm thất bại, chúng tôi không ngờ cuối cùng đã tìm thấy F.J. King và cũng không ngờ lại nhanh đến vậy".
Ông Baillod bày tỏ: "Thật không thể tin nổi khi nhóm chúng tôi là những người đầu tiên nhìn thấy tàu F.J. King kể từ năm 1886".
Các nhà tìm kiếm từng nghĩ rằng con tàu đã vỡ thành nhiều mảnh do trọng lượng quặng sắt mà nó chở theo. Tuy nhiên, thân tàu F.J. King vẫn còn nguyên vẹn dù bị chôn vùi dưới đáy biển suốt gần 140 năm qua.
Vô lăng điều khiển (bánh lái) của F.J. King nằm dưới đáy hồ Michigan, ngay phía sau phần đuôi tàu. Ảnh: AP
Đầy xác "tàu ma" dưới Ngũ Đại Hồ
Hiệp hội Khảo cổ học dưới nước Wisconsin đã phát hiện 5 xác tàu trong 3 năm qua ở Ngũ Đại Hồ, tức nhóm 5 hồ nước ngọt lớn ở Bắc Mỹ. Trong đó, Michigan là hồ duy nhất nằm hoàn toàn trong lãnh thổ Mỹ.
Đầu năm 2025, nhóm tìm thấy tàu hơi nước L.W. Crane trên sông Fox tại Oshkosh, cùng tàu kéo John Evenson và tàu buồm Margaret A. Muir ngoài khơi Algoma, đều thuộc bang Wisconsin.
Nhóm của chuyên gia Baillod cũng phát hiện tàu buồm Trinidad ngoài khơi Algoma vào năm 2023.
Thư viện Nước Wisconsin thuộc Đại học Wisconsin–Madison cho hay khu vực Ngũ Đại Hồ có từ 6.000 đến 10.000 xác tàu đắm, phần lớn vẫn chưa được tìm thấy.
Các nhà nghiên cứu biết về những vụ đắm tàu này vì mọi tàu thương mại hoạt động trên hồ đều phải được báo cáo.
"Từ đầu thế kỷ XIX đến thế kỷ XX, ước tính khoảng 40.000 con tàu đã đi lại trên Ngũ Đại Hồ"- chuyên gia Baillod, người đã xây dựng một cơ sở dữ liệu về các con tàu này suốt 3 thập kỷ qua, phỏng đoán.
Có khoảng 6.000 tàu thương mại nằm lại dưới đáy Ngũ Đại Hồ do bão tố hoặc các sự cố khác. Riêng hồ Michigan có hơn 200 xác tàu vẫn đang được tìm kiếm.
Các xác tàu ở Ngũ Đại Hồ đã được phát hiện từ thập niên 1960 nhưng những năm gần đây tốc độ phát hiện tăng mạnh. Điều này nhờ sự chú ý của truyền thông, nước hồ trong hơn và công nghệ tìm kiếm tốt hơn, giá rẻ hơn. Một số thợ săn xác tàu và cơ quan truyền thông gọi đây là "thời kỳ hoàng kim" của việc phát hiện tàu đắm.
Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương quốc gia Mỹ (NOAA) đang triển khai một dự án lập bản đồ đáy Ngũ Đại Hồ với độ phân giải cao vào năm 2030. Nếu thành công, toàn bộ các xác tàu sẽ được tìm thấy, theo ông Baillod.
Xác tàu buồm F.J. King được nhìn thấy dưới đáy hồ Michigan hồi tháng 8-2025. Ảnh: AP
Lịch sử loài người có thể phải viết lại vì phát hiện của một người chăn cừu vào năm 1959
Hộp sọ Petralona kỳ bí gây kinh ngạc cho các nhà khoa học sau khi nằm kẹt trong vách hang suốt 300.000 năm.
Hộp sọ Petralona là một ẩn số thực sự đối với giới nghiên cứu. Được tìm thấy trong tình trạng gắn chặt vào vách hang động, mẫu vật tiền sử này dường như không thuộc về loài Homo sapiens hay người Neanderthal, và nó liên tục thách thức mọi nỗ lực nhằm xếp loại chính xác vào cây phả hệ nhân loại hiện có.
Năm 1959, trong một hang đá vôi gần Thessaloniki tại tỉnh Chalkidiki ở Hy Lạp, một người chăn cừu tình cờ phát hiện một lối vào hang động nhỏ hẹp khi lớp tuyết dày tan chảy. Ông đã tìm một nhóm dân làng để giúp ông dọn sạch lối vào. Ngõ hẹp đó dẫn họ vào một hang động giàu nhũ đá và măng đá, với một hộp sọ người lơ lửng trên vách hang, bị một măng đá xuyên qua.
Các nhà khảo cổ ngay lập tức vào cuộc. Trải qua hàng thiên niên kỷ, dòng nước giàu khoáng chất nhỏ giọt liên tục lên hộp sọ, bao phủ nó trong một lớp calcite màu nâu sẫm. Cuối cùng, phần xương về cơ bản đã hợp nhất với đá xung quanh, tạo nên hình ảnh ám ảnh như một linh hồn bị mắc kẹt đang nhô ra khỏi vách hang. Phần hàm dưới của nó không bao giờ được tìm thấy, nhiều khả năng là do đã bị quá trình canxi hóa vùi lấp hoàn toàn.
Mới đầu, hộp sọ tiền sử này được tin là thuộc về một thành viên của dòng giống Homo erectus hoặc Neanderthal. Một số nghiên cứu sau đó thậm chí còn gợi ý rằng đây có thể là đại diện sớm của loài Homo sapiens, một phát hiện mang tính bùng nổ nếu xét đến vị trí và độ tuổi tiềm năng của nó. Tuy nhiên, các nghiên cứu sâu hơn cho thấy nó thiếu nhiều đặc điểm điển hình mà người ta thường thấy ở những chủng người quen thuộc này.
Điều thú vị là hộp sọ Petralona có nét tương đồng đáng kinh ngạc với một hộp sọ 300,000 năm tuổi được tìm thấy tại Zambia, miền nam châu Phi, cách đây hơn một thế kỷ. Hầu hết các nhà nghiên cứu phân loại mẫu vật đó là Homo heidelbergensis, một loài vượn người đã tuyệt chủng được cho là tổ tiên chung của cả người Neanderthal và con người hiện đại.
Một trở ngại lớn khác trong việc xác định Người đàn ông Petralona chính là mốc thời gian không nhất quán. Vì hộp sọ được tìm thấy bên trong các lớp khoáng chất thay vì các tầng trầm tích rõ ràng, việc xác định niên đại đã chứng minh là cực kỳ khó khăn. Các nghiên cứu khác nhau đã đưa ra kết quả dao động từ 170,000 đến 700,000 năm, một khoảng thời gian quá rộng khiến nhiều giả thuyết vẫn còn bỏ ngỏ.
Vào năm 2025, các nhà nghiên cứu đã đạt được một bước đột phá quan trọng khi sử dụng phương pháp xác định niên đại bằng chuỗi uranium trên lớp calcite bám phía trên hộp sọ. Kết quả cho thấy niên đại tối thiểu khoảng 286,000 năm, với sai số khoảng 9,000 năm, gợi ý rằng nó có thể cùng thời với hộp sọ H. heidelbergensis từ miền nam châu Phi.
Giáo sư Chris Stringer, một nhà nhân chủng học hàng đầu tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên ở London và là một trong những đồng tác giả của nghiên cứu năm 2025, cho biết về mặt hình thái, chúng thuộc cùng một nhóm và về mặt niên đại, chúng cũng có vẻ rất gần nhau. Ông nói thêm rằng nếu lớp calcite trên hóa thạch phát triển rất nhanh sau khi hóa thạch được đưa vào hang, thì con số khoảng 288,000 đến 290,000 là niên đại chuẩn xác cho mẫu vật. Nhưng nếu hóa thạch đã nằm trong hang một thời gian trước khi lớp calcite bám lên, thì tuổi đời đó chỉ là niên đại tối thiểu.
Cột mốc thời gian vững chắc này củng cố thêm cho quan điểm rằng các quần thể người tiền sử ở châu Âu và châu Phi có thể vẫn giữ mối quan hệ họ hàng gần gũi trong suốt thời kỳ Trung Pleistocene, tạo thành một dòng dõi mở rộng được gọi là H. heidelbergensis sensu lato sinh sống trên một vùng rộng lớn của hành tinh. Tuy nhiên, đúng như tính chất của ngành nghiên cứu sự tiến hóa của loài người, thực tế có lẽ còn phức tạp hơn nhiều so với những gì câu chuyện rắc rối này gợi mở.
Nguồn: IFLScience
Phát hiện "nàng tiên cá" dạt vào bãi biển, chuyên gia xác nhận: Đây là loài từng bị tuyên bố tuyệt chủng
Sự xuất hiện của một "nàng tiên cá" dài hơn 1,5 mét tại bãi biển đã khiến cộng đồng mạng xôn xao.
Theo thông tin từ báo chí Trung Quốc, ngày 12/2, một người yêu chim hoang dã khi đi dọc bờ biển tại Ngô Xuyên (thuộc Trạm Giang) đã phát hiện một thi thể "nàng tiên cá" bị vùi một phần trong cát. Phần đuôi còn tương đối nguyên vẹn, trong khi phần đầu đã phân hủy nghiêm trọng.
Cục Nông nghiệp và Nông thôn địa phương sau đó xác nhận, nhiều khả năng đây là thi thể bò biển cũng là một loài động vật quý hiếm được mệnh danh là "nàng tiên cá" do thân hình tròn, vây trước giống cánh tay và chiếc đuôi dẹt đặc trưng.
Theo cơ quan chức năng, nhiều khả năng đây là thi thể bò biển cũng là một loài động vật quý hiếm được mệnh danh là "nàng tiên cá". (Ảnh: Sohu)
Ngay sau khi tiếp nhận thông tin, lực lượng chức năng đã phong tỏa hiện trường, cử nhân viên túc trực bảo vệ và đưa thi thể vào kho lạnh. Mẫu vật dự kiến sẽ được bàn giao cho Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc để tiến hành giám định chính thức.
Chủ đề "Phát hiện thi thể nghi là bò biển tại bãi biển Trạm Giang" nhanh chóng leo lên top tìm kiếm nóng trên mạng xã hội Trung Quốc, thu hút hàng triệu lượt quan tâm.
Loài từng bị tuyên bố tuyệt chủng chức năng tại Trung Quốc
Bò biển (Dugong dugon) là động vật có vú sống hoàn toàn dưới nước, chủ yếu ăn cỏ biển và thường sinh sống ở vùng ven bờ nhiệt đới, đặc biệt là khu vực Ấn Độ Dương – Tây Thái Bình Dương.
Tại Trung Quốc, loài này được xếp vào diện động vật bảo vệ cấp quốc gia hạng nhất. Tuy nhiên, năm 2022, một nhóm nhà khoa học quốc tế công bố nghiên cứu cho rằng bò biển đã "tuyệt chủng chức năng" tại vùng ven biển Trung Quốc. Điều này có nghĩa là số lượng cá thể còn lại quá ít, không đủ để duy trì một quần thể sinh sản ổn định trong tự nhiên.
Tại Trung Quốc, bò biển được xếp vào diện động vật bảo vệ cấp quốc gia hạng nhất. (Ảnh: Sohu)
Nguyên nhân chính được chỉ ra là suy giảm thảm cỏ biển, ô nhiễm môi trường và hoạt động đánh bắt ven bờ.
Chính vì thế, phát hiện mới nhất tại Trạm Giang không chỉ gây tiếc nuối mà còn đặt ra nhiều câu hỏi: Liệu còn cá thể nào sống sót trong tự nhiên? Và môi trường biển ven bờ đã thay đổi ra sao trong những năm gần đây?
Hồi chuông cảnh báo về bảo tồn sinh vật biển quý hiếm
Việc một thi thể nghi là bò biển dạt vào bờ biển lần này được giới chuyên môn nhìn nhận là tín hiệu đáng suy ngẫm. Dù chưa có kết luận giám định cuối cùng, sự kiện này một lần nữa cho thấy những thách thức lớn trong công tác bảo tồn sinh vật biển.
Bò biển vốn được xem là "loài chỉ thị" cho sức khỏe của hệ sinh thái cỏ biển. Khi môi trường sống bị thu hẹp hoặc suy thoái, chúng gần như không còn cơ hội tồn tại. Vì vậy, sự biến mất hoặc tái xuất của loài này đều mang ý nghĩa khoa học đặc biệt.
Việc một thi thể nghi là bò biển dạt vào bờ biển lần này được giới chuyên môn nhìn nhận là tín hiệu đáng suy ngẫm. (Ảnh: Sohu)
Các chuyên gia cho rằng, trong bối cảnh biến đổi khí hậu và gia tăng áp lực từ hoạt động kinh tế ven biển, việc phục hồi thảm cỏ biển và thiết lập khu bảo tồn hiệu quả là yếu tố then chốt nếu muốn cứu các loài đang đứng trước nguy cơ biến mất vĩnh viễn.
Phát hiện tại Trạm Giang có thể chỉ là một trường hợp cá biệt. Nhưng với nhiều người, hình ảnh "nàng tiên cá" dạt vào bờ không đơn thuần là câu chuyện gây tò mò mà là lời nhắc nhở rõ ràng về cái giá phải trả khi thiên nhiên bị tổn thương quá lâu.
Cùng họ nhà ngựa, cùng bốn vó khỏe và đủ sức kéo xe, nhưng lịch sử đã chọn ngựa trở thành bạn đồng hành của con người, còn ngựa vằn thì không.
Ngựa vằn rất khó thuần hóa - Ảnh: MARYLAND ZOO
Khoa học cho thấy câu trả lời không nằm ở những sọc của ngựa vằn, mà ở sinh học hành vi, phản ứng stress và cả áp lực tiến hóa của đồng cỏ châu Phi.
Vì sao ngựa vằn vẫn... "bướng"?
Trong lịch sử, từng có những nỗ lực cưỡi ngựa vằn, huấn luyện ngựa vằn kéo xe, thậm chí lai tạo với ngựa. Nhưng ngựa vằn chưa bao giờ trở thành vật nuôi phổ biến như ngựa hay lừa.
Theo một bài tổng quan khoa học đăng trên tạp chí Animals (2024), thuần hóa là một quá trình lâu dài đòi hỏi nhiều điều kiện cùng hội tụ như loài đó phải chịu được việc bị bắt giữ, nuôi nhốt, tiếp xúc gần với con người và quan trọng nhất là có thể thích nghi qua nhiều thế hệ dưới sự chọn lọc của con người.
Trong khi đó, ngựa vằn gặp trở ngại ở nhiều điểm trong chuỗi điều kiện này.
Một yếu tố then chốt được các nhà nghiên cứu nhấn mạnh là hiện tượng "tổn thương do stress khi bị bắt giữ". Đây là tình trạng một số động vật móng guốc có thể bị suy sụp sinh lý nghiêm trọng khi bị rượt đuổi hoặc nhốt giữ.
Theo bài viết trên trang Animals, mức độ dễ bị tổn thương do stress là yếu tố có ảnh hưởng tiêu cực rõ rệt đến khả năng thuần hóa. Ngựa vằn, vốn tiến hóa trong môi trường có mật độ thú săn mồi cao ở châu Phi, giữ lại phản ứng cảnh giác và hoảng loạn rất mạnh.
Đó là bởi trong môi trường mà sư tử, linh cẩu hay báo luôn rình rập, những con phản ứng nhanh, giật mình mạnh và bỏ chạy tức thì có khả năng sống sót cao hơn.
Ngựa vằn đã tiến hóa để có thể thích ứng với cuộc sống hoang dã - Ảnh: LA ZOO
Qua hàng chục nghìn năm, đặc điểm này trở thành lợi thế tiến hóa, đặc biệt đúng với trường hợp của ngựa vằn.
Nhưng chính lợi thế ấy lại là rào cản đối với quá trình thuần hóa, vốn đòi hỏi động vật có thể chịu đựng việc bị kiểm soát và tiếp xúc lặp đi lặp lại với con người.
Chương trình Nature của PBS khi nói về tập tính ngựa vằn từng mô tả chúng là loài rất "căng thẳng", dễ phản ứng mạnh khi bị tiếp cận gần. Không ít trường hợp chấn thương do ngựa vằn cắn hoặc đá đã được ghi nhận trong thực tế.
Tuy nhiên vấn đề không chỉ nằm ở "tính khí". Thuần hóa không đồng nghĩa với việc một con ngựa vằn có thể được dạy dỗ.
Một con ngựa vằn riêng lẻ có thể được huấn luyện phần nào, nhưng để trở thành vật nuôi phổ biến, loài đó phải cho phép con người nhân giống và chọn lọc qua nhiều thế hệ mà không gây rủi ro quá lớn.
Giới nghiên cứu phân biệt rõ giữa "thuần tính" (một con trở nên hiền hơn) và "thuần hóa" (cả quần thể thay đổi về mặt di truyền và hành vi qua nhiều thế hệ). Theo tổng quan trên Animals, ngựa vằn không đáp ứng tốt những điều kiện nền tảng để tiến trình thuần hóa ở quy mô quần thể diễn ra bền vững.
Ngựa có thật sự thông minh?
Loài ngựa có khả năng ghi nhớ biểu cảm của con người - Ảnh: SCIENCE FOR HORSE LOVERS
Nếu ngựa vằn cho thấy giới hạn của thuần hóa, thì ngựa - loài đã đồng hành với con người hàng nghìn năm - lại ngày càng khiến các nhà khoa học nhìn nhận lại trí tuệ của chúng.
Năm 2018, một nghiên cứu công bố trên tạp chí Current Biology cho thấy ngựa có thể ghi nhớ biểu cảm cảm xúc của con người.
Trong thí nghiệm, ngựa được cho xem hình ảnh khuôn mặt người với biểu cảm vui hoặc giận. Nhiều giờ sau, khi gặp lại đúng người đó trong trạng thái trung tính, ngựa vẫn thể hiện phản ứng khác nhau tùy theo ký ức cảm xúc trước đó.
Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng thiết kế thí nghiệm được kiểm soát để tránh việc con người vô tình phát tín hiệu cho ngựa.
Một nghiên cứu khác đăng trên Frontiers in Psychology năm 2020 tiếp tục đặt câu hỏi ngựa có thực sự nhận diện khuôn mặt người hay chỉ dựa vào những chi tiết như màu tóc, dáng người?
Kết quả cho thấy ngựa có khả năng xử lý khuôn mặt theo hướng tổng thể, tức không chỉ dựa vào một chi tiết đơn lẻ mà dựa vào cấu trúc chung của khuôn mặt.
Quá trình thuần hóa ngựa có thể liên quan nhiều đến khả năng tương tác xã hội của chúng - Ảnh: MASHABLE
Gần đây hơn, nghiên cứu công bố trên Applied Animal Behaviour Science (2024) cho thấy ngựa có thể học cách phân biệt các biểu cảm cảm xúc khác nhau của con người thông qua huấn luyện có thưởng.
Theo nhóm nghiên cứu, ngựa được huấn luyện trong môi trường kiểm soát với hình ảnh khuôn mặt thể hiện các cảm xúc khác nhau và được thưởng khi chọn đúng theo quy tắc. Khi thay đổi người trong ảnh hoặc góc chụp, ngựa vẫn duy trì khả năng phân loại.
Ở góc độ sinh học hành vi, những phát hiện này gợi ý rằng ngựa có hệ thống xử lý tín hiệu xã hội phát triển tương đối cao. Là loài sống bầy đàn, ngựa vốn phải nhạy cảm với trạng thái cảm xúc của những con khác để duy trì trật tự trong nhóm.
Quá trình thuần hóa kéo dài hàng nghìn năm có thể đã củng cố thêm khả năng đọc và phản ứng với tín hiệu của con người.
Theo các nhà nghiên cứu, đây là ví dụ điển hình cho thấy thuần hóa không dừng lại ở ngoại hình hay sức kéo, mà còn liên quan đến biến đổi về hành vi và khả năng tương tác xã hội.
Bò Nhật Bản được sơn sọc như ngựa vằn để chống côn trùng hút máu
Tờ Mainichi đưa tin, người chăn nuôi bò trên khắp tỉnh Yamagata (Nhật Bản) gần đây đã sử dụng thuốc tẩy nhẹ hoặc phun sơn lên da để tạo cho bò những sọc đen, trắng trông như ngựa vằn.
Một con bò có sọc như ngựa vằn ở Nhật Bản. Ảnh: newsdig.tbs.co.jp
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học trong tỉnh, ruồi sẽ ít bâu vào những con bò có sọc và thường bâu vào bò có bộ lông bình thường.
Giống bò đen Nhật Bản là một trong bốn giống bò cho thịt bò wagyu cao cấp nổi tiếng ở xứ sở mặt trời mọc. Tuy nhiên, từ lâu, nông dân đã thường phàn nàn rằng đàn bò dễ bị các loài côn trùng như ruồi hoặc ruồi trâu hút máu. Điều này làm bò căng thẳng, khó chịu và đau đớn, thậm chí còn ảnh hưởng đến tỷ lệ sinh sản của cả đàn bò.
Một quan chức bộ phận xúc tiến nông nghiệp của tỉnh cho biết: "Nhiều nông dân đã không muốn thả bò trên đất nông nghiệp vì lo chúng sẽ bị đám ruồi trâu tấn công. Nhưng giờ đây, chúng ta có thể yên tâm hơn khi bò được thư giãn và phát triển khỏe mạnh nếu có vạch sọc trên người".
Các nhà khoa học đã tiến hành quan sát và theo dõi hiệu quả của giải pháp sơn sọc khác màu bằng cách thả những con bò được sơn sọc trên cánh đồng cùng những con bò bình thường.
Sau khi đếm số lần bò vẫy đuôi, lắc đầu hoặc giậm móng để xua đuổi và ngăn ruồi, họ phát hiện ra rằng bò bình thường phản ứng đến 16 lần mỗi phút, còn những con có sọc nhân tạo thì chỉ phản ứng 5 lần trong cùng thời gian.
Mặc dù các nhà nghiên cứu không giải thích tại sao ruồi ít bâu vào những con bò có sọc, nhưng phương pháp này đã được phổ biến cho nông dân.
Một nông dân nhận xét rằng có thể thấy rõ khác biệt ở đàn bò và ông cũng rất vui khi thấy những con bò có bộ lông bình thường không xa lánh những đồng loại có sọc./.
Thông Tấn Xã Việt Nam
Thanh kiếm 8 cạnh 3.400 năm tuổi hé lộ bí mật độc đáo
GD&TĐ - Các nhà khảo cổ Đức phát hiện thanh kiếm Đồ đồng 8 cạnh hiếm, hé lộ kỹ thuật rèn tinh xảo và bí mật tạo màu độc đáo.
Thanh kiếm được khai quật tại Nördlingen.
Nhờ công nghệ hiện đại, họ đã tìm ra cách những thợ rèn cổ xưa tạo nên món vũ khí đặc biệt này, mở ra góc nhìn mới về kỹ thuật luyện kim thời bấy giờ.
Phát hiện gây chấn động
Năm 2023, các nhà khảo cổ đã tìm thấy thanh kiếm Achtkantschwert - loại kiếm tám cạnh đặc trưng của miền nam nước Đức trong một ngôi mộ cổ tại Nördlingen.
Khi được đưa ra khỏi lòng đất, thanh kiếm vẫn sáng lấp lánh, gợi nhớ đến truyền thuyết về thanh kiếm của vua Arthur. Sau đó, hiện vật được vận chuyển từ Bavaria đến Berlin trong hộp bảo vệ đặc biệt để nghiên cứu.
Nhóm chuyên gia muốn tìm hiểu cách phần chuôi được gắn với lưỡi kiếm và vật liệu nào được sử dụng trong các rãnh trang trí.
“Việc chế tác loại kiếm này rất phức tạp. Chúng tôi muốn biết cách chuôi được gắn vào lưỡi và cách tạo nên hoa văn đặc trưng,” nhà nghiên cứu Beate Herbold cho biết.
Theo ông thách thức lớn nhất là làm sao khám phá bí mật bên trong mà không làm hỏng hiện vật.
Công nghệ hiện đại hé lộ bí mật
Để nghiên cứu, các nhà khoa học tại Berlin đã sử dụng nguồn bức xạ synchrotron BESSY II cùng phương pháp chụp cắt lớp vi tính. Hình ảnh 3 chiều cho thấy lưỡi kiếm kéo dài vào chuôi dưới dạng một phần tang, được cố định bằng đinh tán.
Công nghệ này cũng hé lộ chi tiết tinh xảo ở phần chóp chuôi: Trong các rãnh trang trí không phải là thiếc như giả định ban đầu, mà là những sợi dây đồng được khảm vào. Điều này chứng tỏ tay nghề thợ rèn thời kỳ đó đã đạt trình độ bậc thầy, khi tạo được sự tương phản giữa màu đỏ của đồng và màu vàng của đồng thiếc.
Nhà nghiên cứu Herbold nhấn mạnh: “Đây là một bất ngờ, cho thấy kỹ thuật chế tác đã rất phát triển từ thời đó.”
Ngoài ra, họ còn phát hiện dấu vết của thiếc và chì, có thể từ hợp kim đồng. Nhà nghiên cứu Johann-Friedrich Tolksdorf bổ sung rằng, để làm nổi bật màu đỏ của đồng trên nền vàng, thợ rèn có thể đã dùng phương pháp tạo lớp gỉ hóa học, chẳng hạn bằng cách ngâm trong nước tiểu, để làm sẫm màu bề mặt.
Các chuyên gia tin rằng việc sử dụng lớp patina đã giúp tạo nên hiệu ứng thị giác “đỏ và vàng” đặc trưng, khiến thanh kiếm trở thành một tác phẩm nghệ thuật thực sự.
Chuôi kiếm được chế tác tinh xảo.
Hành trình nghiên cứu tiếp tục
Dù đã có nhiều phát hiện quan trọng, quá trình nghiên cứu vẫn chưa kết thúc. Các nhà khảo cổ kỳ vọng sẽ hiểu rõ hơn về những xưởng chế tác vũ khí thời kỳ Đồ đồng ở miền nam nước Đức và các kỹ thuật luyện kim đã được áp dụng.
Giáo sư Mathias Pfeil, Tổng Giám đốc Bảo tồn Di tích của BLfD (Văn phòng Bang Bavaria về Bảo tồn Di tích), nhận định: “Nhờ các phương pháp đo lường hiện đại, chúng ta có thể hiểu cách kim loại được chế tác cách đây gần 3,5 thiên niên kỷ, với độ chính xác đáng kinh ngạc và kỹ năng vượt trội.”
Thanh kiếm Achtkantschwert không chỉ là một hiện vật khảo cổ, mà còn là minh chứng sống động cho trình độ thủ công tinh xảo của con người thời kỳ Đồ đồng, mở ra cánh cửa khám phá về lịch sử và văn hóa châu Âu cổ đại.
Theo IE
Vì sao 'Mã đáo thành công' thường đi cùng hình ảnh 8 chú ngựa?
Không chỉ là một câu chúc đầu năm quen thuộc, 'Mã đáo thành công' còn gắn liền với hình tượng 8 chú ngựa phi nước đại trong tranh phong thủy.
ranh Bát Mã thường được treo dịp đầu năm, khai trương với lời chúc "Mã đáo thành công" - Ảnh: Sina
Những ngày đầu năm, trên mạng xã hội hay trong các dịp khai trương, tân gia, hình ảnh 8 chú ngựa tung vó cùng lời chúc "Mã đáo thành công" xuất hiện dày đặc. Ít ai để ý rằng phía sau cụm từ quen thuộc ấy là một lớp nghĩa văn hóa được tích lũy qua nhiều thế kỷ.
"Mã đáo thành công" là gì?
"Mã đáo thành công" theo các từ điển thành ngữ tiếng Trung và nhiều trang nghiên cứu văn hóa Hoa ngữ, cụm này có nghĩa đen là "ngựa đến nơi là thành công", hàm ý chúc ai đó đạt kết quả thuận lợi ngay khi bắt đầu.
Trong xã hội cổ đại, ngựa là phương tiện di chuyển chủ yếu trong chiến trận và giao thương đường dài - Ảnh: Shen Yun
Người xưa quan niệm đoàn quân ra trận nếu "mã đáo", tức ngựa trở về, là chủ nhân đã hoàn thành nhiệm vụ và trở về bình an. Theo thời gian, cụm từ này được dùng rộng rãi như một lời chúc thành công nhanh chóng trong thi cử, kinh doanh hay khởi sự đầu năm.
Một số học viện văn hóa Trung Hoa tại châu Âu khi giới thiệu về thành ngữ này cũng giải thích đây là lời chúc phổ biến vào dịp năm mới, thể hiện mong muốn "thành công đến ngay tức thì".
Vì sao lại là 8 con ngựa?
Hình ảnh 8 con ngựa (Bát Mã) không xuất phát trực tiếp từ thành ngữ "Mã đáo thành công", mà liên quan đến điển tích về Chu Mục Vương thời Tây Chu, người được cho là sở hữu tám tuấn mã nổi tiếng. Câu chuyện này được ghi lại trong thư tịch cổ và trở thành đề tài quen thuộc trong hội họa truyền thống Trung Hoa.
Đến thế kỷ 20, họa sĩ Từ Bi Hồng góp phần phổ biến mạnh mẽ mô típ "Bát Mã" qua các bức tranh thủy mặc vẽ ngựa đang phi nước đại.
Báo South China Morning Posttừng nhận định tranh ngựa của ông tượng trưng cho sức mạnh, sinh khí và khát vọng vươn lên trong nghệ thuật Trung Quốc hiện đại. Từ đó hình tượng tám con ngựa ngày càng được ưa chuộng trong trang trí và quà tặng mang ý nghĩa may mắn.
Tác phẩm vẽ ngựa của họa sĩ Từ Bi Hồng góp phần phổ biến mô típ "Bát Mã" trong mỹ thuật Trung Quốc hiện đại - Ảnh: CGTN
Một yếu tố khác khiến hình ảnh "Bát Mã" được ưa chuộng là quan niệm về số 8 trong văn hóa Trung Hoa. Số 8 có cách phát âm gần với chữ mang nghĩa "phát đạt". Nhiều nghiên cứu về văn hóa số học ghi nhận niềm tin này ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống hiện đại, từ lựa chọn ngày khai trương đến biển số xe.
Tuy nhiên ý nghĩa "phát tài, phát lộc" gắn với số 8 là quan niệm dân gian và phong thủy phổ biến, không phải nội dung trực tiếp của thành ngữ "Mã đáo thành công".
Chi tiết một con ngựa ngoảnh đầu
Trong nhiều bức tranh "Bát Mã Truy Phong", có thể thấy một chú ngựa quay đầu giữa đàn ngựa đang phi về phía trước. Theo phân tích mỹ thuật, đây chủ yếu là thủ pháp bố cục nhằm tạo nhịp điệu và chiều sâu không gian, giúp bức tranh sinh động hơn.
Những cách hiểu như "nhắc nhau cùng tiến bước" hay "không ai bị bỏ lại phía sau" là diễn giải phổ biến trong đời sống hiện đại.
Các cách lý giải mang ý nghĩa "cùng tiến bước" hay "không ai bị bỏ lại phía sau" xuất hiện phổ biến trong quan niệm đương đại - Ảnh: Wikimedia Commons
Sự kết hợp giữa thành ngữ "Mã đáo thành công" và hình ảnh 8 chú ngựa vì vậy là kết quả của nhiều lớp văn hóa: từ thành ngữ cổ chúc thành công nhanh chóng, điển tích "Bát Mã" trong truyền thuyết, đến ảnh hưởng của hội họa hiện đại và quan niệm may mắn về con số 8.