Một pho tượng bằng đá đứng dưới dòng nước suốt ngày đêm. Mùa hè, bề mặt bị nung nóng dưới nắng. Mùa đông, nước len vào những khe nhỏ và có thể đóng băng. Rêu tảo, bụi bẩn, khoáng chất cùng ô nhiễm không khí liên tục bám lên đá. Vậy vì sao nhiều đài phun nước cổ tại Italy vẫn tồn tại sau hàng trăm năm?
Câu trả lời bắt đầu từ chính cấu tạo của đá cẩm thạch. Loại đá này hình thành khi đá vôi chịu nhiệt độ và áp suất lớn trong lòng đất, khiến các hạt calcite kết tinh lại rồi liên kết chặt với nhau. Nhờ cấu trúc đặc chắc, đá cẩm thạch chịu nén tốt, có thể tạo thành những khối lớn và cho phép nghệ nhân chạm khắc các chi tiết rất nhỏ.
Tuy nhiên, đá cẩm thạch không hoàn toàn chống nước. Bên trong nó vẫn tồn tại lỗ rỗng và những khe nứt cực nhỏ. Nước có thể thấm vào các khoảng trống ấy, còn calcite – thành phần chính của đá – có khả năng hòa tan chậm khi tiếp xúc với nước mang tính acid.
Nước mưa hấp thụ carbon dioxide trong không khí và tạo thành acid carbonic rất yếu. Trong môi trường ô nhiễm, các hợp chất lưu huỳnh và nitơ còn làm nước mưa có tính acid mạnh hơn. Quá trình này diễn ra chậm, nhưng sau nhiều thế kỷ có thể khiến những đường nét sắc sảo trên tóc, khuôn mặt, ngón tay và nếp áo trở nên tròn hơn.
Nước chảy liên tục cũng cuốn theo các hạt nhỏ trên bề mặt. Những nơi dòng nước đập trực tiếp thường mòn nhanh hơn vùng khô. Vì thế, trên một đài phun nước cổ, ta vẫn có thể nhận ra dấu đục của nghệ nhân ở vị trí được che chắn, trong khi miệng vòi và thành bể đã nhẵn đi vì dòng nước.
Nguy hiểm lớn hơn đôi khi đến từ muối khoáng. Nước thấm vào đá rồi bay hơi, để lại các tinh thể muối trong lỗ rỗng. Khi tinh thể phát triển, chúng tạo áp lực lên cấu trúc xung quanh, khiến bề mặt bong vảy hoặc rơi thành những hạt nhỏ giống đường. Hiện tượng này được giới bảo tồn gọi là “sugaring” vì mặt đá suy yếu có cảm giác như đang vụn thành hạt đường.
Ở vùng có mùa đông lạnh, chu kỳ đóng băng và tan băng tiếp tục mở rộng các khe nứt. Nước tăng thể tích khi đóng băng, tạo áp lực từ bên trong. Nắng nóng rồi lạnh xuống mỗi ngày cũng làm các tinh thể calcite giãn nở theo những hướng khác nhau, khiến liên kết trong đá lỏng dần theo thời gian.
Rêu, tảo và vi sinh vật phát triển tại các khu vực thường xuyên ẩm ướt. Chúng giữ nước lâu hơn trên bề mặt, tạo màu xanh, nâu hoặc đen và tiết ra một số acid hữu cơ có thể tác động lên khoáng chất. Lớp patina ấy đôi khi mang vẻ cổ kính, nhưng nếu phát triển quá dày, nó có thể che lấp chi tiết và thúc đẩy đá xuống cấp.
Các đài phun nước sống lâu nhờ được thiết kế để kiểm soát dòng chảy. Vòi phun đưa nước theo đường định sẵn, bể chứa được tạo độ dốc để tránh nước đọng, còn các mối nối và lớp chống thấm phía sau ngăn nước xâm nhập sâu vào kết cấu. Những phần chịu lực thường rất dày, vì vậy sự hao mòn vài milimét trên bề mặt chưa thể phá hủy toàn bộ công trình.
Nhiều đài phun tại Italy còn sử dụng kết hợp đá cẩm thạch với travertine, granite, gạch và vật liệu chống thấm. Không phải mọi phần màu trắng nhìn giống cẩm thạch đều được làm từ cùng một loại đá. Người xưa lựa chọn vật liệu theo vị trí: đá dễ chạm khắc dành cho tượng, loại bền hơn dùng ở bể chứa và những nơi nước tác động mạnh.
Yếu tố quyết định vẫn là việc chăm sóc qua nhiều thế hệ. Người bảo tồn theo dõi vết nứt, sửa mạch vữa, làm sạch cặn khoáng, kiểm soát rêu tảo và thay thế những đường ống bị rò rỉ. Hệ thống hiện đại có thể tuần hoàn và lọc nước, điều chỉnh độ pH, giảm lượng muối hòa tan hoặc tạm ngừng hoạt động khi thời tiết quá lạnh.
Việc làm sạch cũng phải rất thận trọng. Chất tẩy mạnh, bàn chải kim loại hay máy phun áp lực cao có thể phá hủy bề mặt nhanh hơn cả quá trình phong hóa tự nhiên. Các chuyên gia thường thử nghiệm trên một vùng nhỏ, dùng dụng cụ mềm và chỉ loại bỏ phần gây hại. Lớp màu do thời gian tạo nên không phải lúc nào cũng cần xóa sạch, bởi nó đã trở thành một phần lịch sử của công trình.
Bảo tồn không có nghĩa đưa đài phun trở lại vẻ trắng tinh như ngày vừa hoàn thành. Mục tiêu là làm chậm sự xuống cấp, giữ lại càng nhiều vật liệu nguyên gốc càng tốt và cho phép người xem nhận ra dấu vết của tuổi đời.
Những đường đục còn sót lại kể câu chuyện về bàn tay người nghệ nhân.
Các cạnh đá đã tròn đi ghi lại hành trình của nước.
Một đài phun cổ tồn tại không phải vì đá cẩm thạch bất hoại, mà vì công trình đủ chắc để chịu đựng thời gian và luôn có con người tiếp tục chăm sóc nó.
BÊ TÔNG LA MÃ – VẬT LIỆU 2.000 NĂM BIẾT TỰ HÀN GẮN VẾT NỨT
Đền Pantheon, cầu dẫn nước, bến cảng và nhiều công trình La Mã vẫn tồn tại sau gần hai thiên niên kỷ. Trong khi bê tông hiện đại có thể xuống cấp chỉ sau vài chục năm, vật liệu của người La Mã chịu được mưa, nước biển, động đất và những biến đổi khắc nghiệt của thời gian.
Từ lâu, độ bền ấy thường được giải thích bằng tro núi lửa pozzolana lấy từ vùng Pozzuoli gần Napoli. Tro phản ứng với vôi và nước, tạo nên chất kết dính bền chắc hơn nhiều loại vữa cổ khác. Tuy nhiên, khi nghiên cứu mẫu bê tông tại di chỉ Privernum ở Italy, nhóm khoa học thuộc MIT, Harvard cùng các phòng thí nghiệm Italy và Thụy Sĩ nhận thấy một chi tiết từng bị xem là lỗi kỹ thuật: các hạt màu trắng nhỏ nằm rải rác trong vật liệu.
Chúng được gọi là lime clasts – những cục vôi giàu canxi có kích thước vài milimét. Quan điểm cũ cho rằng chúng xuất hiện vì người thợ trộn vữa cẩu thả. Nhóm của giáo sư Admir Masic lại phát hiện cấu trúc hóa học của các hạt vôi cho thấy hỗn hợp từng trải qua nhiệt độ rất cao.
Phát hiện này dẫn tới kỹ thuật hot mixing – trộn nóng. Thay vì chỉ tôi vôi sống với nước trước khi sử dụng, người La Mã có thể cho vôi sống có tính phản ứng mạnh trực tiếp vào hỗn hợp tro núi lửa và cốt liệu. Khi gặp nước, vôi sống tỏa nhiệt dữ dội, làm nhiệt độ khối vữa tăng lên, thúc đẩy phản ứng hóa học, rút ngắn thời gian đông kết và tạo ra các hợp chất khó hình thành trong quy trình trộn nguội.
Những cục vôi còn lại trở thành kho dự trữ canxi nằm sẵn bên trong công trình. Khi một vết nứt nhỏ xuất hiện và nước thấm vào, vết nứt thường chạy qua các hạt vôi giòn. Nước hòa tan canxi, mang dung dịch giàu khoáng chất lan vào khe hở. Canxi sau đó kết tinh thành calcite – dạng khoáng vật của calcium carbonate – hoặc tiếp tục phản ứng với vật liệu pozzolana. Lớp khoáng mới dần lấp kín khe nứt trước khi nước xâm nhập sâu hơn.
Để kiểm tra giả thuyết, các nhà nghiên cứu chế tạo bê tông theo công thức lấy cảm hứng từ La Mã, tạo khe nứt rộng khoảng 0,5 milimét rồi liên tục cho nước chảy qua. Sau một đến vài tuần, lưu lượng nước giảm dần; trong vòng 30 ngày, khe nứt chứa các hạt vôi được calcite lấp kín và nước ngừng chảy. Mẫu đối chứng không có hạt vôi vẫn tiếp tục rò rỉ. Đây là khả năng tự sửa chữa đối với các vết nứt nhỏ có nước đi qua, chứ không phải phép màu có thể phục hồi mọi hư hỏng kết cấu.
Bức ảnh Đấu trường Colosseum thường được dùng để minh họa thành tựu xây dựng La Mã. Lớp ngoài dễ thấy chủ yếu là đá travertine, còn bê tông và gạch góp mặt trong móng, hành lang, vòm cùng các cấu trúc chịu lực phía trong. Pantheon mới là minh chứng nổi tiếng nhất: mái vòm bê tông không cốt thép lớn nhất thế giới vẫn đứng vững từ thế kỷ II.
Giá trị hiện đại của nghiên cứu nằm ở tuổi thọ công trình. Xi măng là nguồn phát thải carbon lớn; vật liệu càng nhanh hỏng, con người càng phải sản xuất thêm để sửa chữa và xây mới. Nếu bê tông lấy cảm hứng từ La Mã có thể tự bịt các khe nứt nhỏ, tuổi thọ cầu đường, đường hầm, đập nước và công trình ven biển có thể được kéo dài, đồng thời giảm nhu cầu bảo trì và lượng vật liệu tiêu thụ.
Người La Mã không để lại một công thức bí mật hoàn chỉnh. Họ để lại những bức tường, mái vòm và bến cảng như các mẫu thí nghiệm kéo dài suốt 2.000 năm. Khoa học hiện đại đang đọc lại thí nghiệm ấy, từng hạt vôi một.
Vua Arthur trẻ tuổi của nước Anh, bị quân Pháp phục kích và bắt giữ. Lẽ ra vua nước Pháp sẽ giết ngài, nhưng vẻ trẻ trung dễ mến của Arthur đã làm cho vua Pháp cảm động. Ông hứa sẽ trả tự do cho Arthur nếu giải được câu đố cực khó. Thời hạn trả lời là một năm, nếu không giải được câu đố thì Arthur sẽ phải chết.
Câu đố là: Người phụ nữ thật sự muốn gì?
Câu đố này có lẽ đến nhà thông thái nhất thế gian cũng bó tay, nên với Arthur quả là một thử thách quá lớn, nhưng như vậy vẫn có cơ hội sống hơn là bị giết, Arthur đành chấp nhận mạo hiểm.
Khi trở về Anh Quốc, Ngài hỏi tất cả mọi người từ các công chúa, các gái mại dâm, các vị Cha xứ đến cả các quan toà, nhưng không ai đưa ra được câu trả lời hoàn hảo. Cuối cùng mọi người khuyên vua là nên đến hỏi mụ phù thuỷ già, có lẽ chỉ còn mụ ta mới có thể giải được câu đố hóc búa này.
Những ngày cuối năm cũng đã tới gần, Arthur đành đến hỏi ý kiến mụ phù thuỷ (thuở xưa phù thuỷ bị kỳ thị). Mụ ta đồng ý trả lời nhưng với điều kiện: để mụ cưới Garwain - Hiệp sĩ dũng cảm của Hội Bàn Tròn, người bạn thân nhất của nhà vua.
Arthur thất kinh. Mụ ta vừa xấu vừa bẩn thỉu, Ngài chưa từng thấy ai đáng tởm như mụ ta. Không, ngài sẽ không để bạn thân của mình phải chịu thiệt thòi như vậy.
Khi biết chuyện, Garwain nói với Arthur rằng sự hy sinh này của chàng làm sao có thể so được với huyết thống Hoàng Gia, sự tồn tại của Hội Bàn Tròn và Vương Quốc Anh. Chàng Hiệp sĩ chấp nhận cuộc hôn nhân và vua Arthur cũng nhận được câu trả lời.
Điều phụ nữ thật sự muốn đó là: "Có toàn quyền quyết định mọi việc trong cuộc sống của mình".
Ngay lập tức, ai cũng nhận ra mụ ta vừa giải được một chân lý. Quả thật Vua nước láng giềng rất hài lòng và cho Arthur khỏi án tử hình.
Nói về đám cưới của mụ phù thuỷ và chàng Hiệp sĩ. Tưởng chừng không gì có thể khiến Arthur hối hận và đau khổ hơn nữa. Tuy nhiên chàng Hiệp sĩ Garwain vẫn cư xử hết sức chừng mực và lịch sự. Mụ phù thuỷ thì trái lại, trong tiệc cưới, mụ ta làm nháo nhào mọi thứ lên. Thỉnh thoảng mụ dùng bàn tay bẩn thỉu nhón cái này một chút, bốc cái kia một tý. Mọi người hết sức kinh hãi.
Đêm tân hôn, Garwain thu hết can đảm bước vào phòng hoa chúc. Nhưng, trên giường không phải là mụ phù thuỷ già nua xấu xí mà là một cô gái đẹp tuyệt trần đang nằm đợi chàng.
Cô từ tốn giải thích, là vì chàng rất tốt với cô dưới hình dạng một mụ phù thuỷ, nên để thưởng cho chàng, cô sẽ biến thành người vợ xinh đẹp hiền hoà suốt 12 tiếng/ ngày.
Vấn đề là chàng phải lựa chọn vào ban ngày hay là ban đêm. Garwain bắt đầu cân nhắc: "Ban ngày nếu nàng xinh đẹp thì ta có thể tự hào cùng nàng đi khắp nơi, nhưng vào ban đêm làm sao mà ta chịu nổi? Ngược lại, ta đâu cần sĩ diện với bạn bè cơ chứ, cứ để nàng ta xấu xí trước mặt mọi người, khi màn đêm buông xuống, ta sẽ được tận hưởng những giây phút ngọt ngào bên thiên thần".
Garwain cuối cùng đáp rằng: "Nàng hãy tự quyết định lấy số phận của mình. Nàng muốn đẹp hay xấu lúc nào cũng được".
Câu trả lời tất nhiên làm cho phù thủy hài lòng và nàng cười nói rằng sẽ hóa thân thành người vợ xinh đẹp suốt đời bên chàng. Đó là phần thưởng cho đàn ông biết tôn trọng ý kiến của phụ nữ.
Cuối đời, Hiệp sĩ Garwain của chúng ta thường dặn dò con cháu: "Vợ đẹp hay xấu điều đó không quan trọng, quan trọng đối xử sao để vợ trở thành một thiên thần hay thành mụ phù thủy."
P/S: bạn muốn biến vợ thành phù thuỷ hay biến phù thuỷ thành vợ?
Thái độ và cách đối xử của bạn với vợ bạn sẽ tạo ra sp như bạn mong muốn! :))))
Yêu thương cho đi chính là yêu thương nhận lại.
•Haley dịch từ Robinsweb
•Chuyện NHÂN VĂN
COLOSSI OF MEMNON – HAI NGƯỜI KHỔNG LỒ ĐÃ NGỒI GIỮA SA MẠC HƠN 3.000 NĂM
Trên bờ tây sông Nile, đối diện thành phố Luxor, có hai pho tượng khổng lồ vẫn lặng lẽ ngồi nhìn về phía mặt trời mọc. Người ta gọi chúng là Colossi of Memnon – Những người khổng lồ Memnon.
Thoạt nhìn, đây chỉ là hai pho tượng đá đã bị thời gian bào mòn nặng nề. Khuôn mặt không còn nguyên vẹn, nhiều mảng thân thể đã nứt vỡ. Nhưng chính sự đổ nát ấy lại khiến nơi này có một sức hút rất đặc biệt, bởi hai pho tượng đã tồn tại ở đây hơn 3.300 năm.
Chúng được dựng vào khoảng thế kỷ XIV trước Công nguyên, dưới triều Pharaoh Amenhotep III, một trong những vị vua quyền lực và giàu có nhất của Vương triều thứ 18 Ai Cập cổ đại.
Mỗi pho tượng cao khoảng 18 mét, mô tả Amenhotep III ngồi trên ngai, hai tay đặt trên đầu gối, hướng mặt về phía đông – nơi Mặt Trời mọc và cũng là hướng của sông Nile.
Điều thú vị là ngày nay, phía sau chúng gần như chỉ còn lại đồng bằng và núi đá.
Nhưng hơn ba thiên niên kỷ trước, hai pho tượng này từng đứng ở cổng vào của một quần thể tang lễ khổng lồ dành cho Amenhotep III. Đó từng là một trong những đền tưởng niệm lớn nhất Thebes cổ đại, rộng hơn cả nhiều công trình nổi tiếng khác trong khu vực.
Thời gian, lũ lụt sông Nile và động đất đã khiến phần lớn ngôi đền biến mất.
Chỉ hai “người gác cổng” còn lại.
Và rồi một câu chuyện kỳ lạ khiến chúng trở nên nổi tiếng khắp thế giới cổ đại.
Khoảng năm 27 trước Công nguyên, một trận động đất làm phần phía trên của pho tượng phía bắc bị hư hại. Sau đó, vào một số buổi sáng, đặc biệt khi nhiệt độ bắt đầu tăng sau đêm lạnh, người ta nghe thấy từ pho tượng phát ra một âm thanh kỳ lạ, đôi khi được mô tả giống tiếng đàn hoặc tiếng hát.
Người Hy Lạp và La Mã cổ đại tin rằng đó là tiếng của Memnon, vị anh hùng trong thần thoại Hy Lạp, cất lời chào mẹ mình – nữ thần bình minh Eos.
Từ đó, nơi này trở thành một điểm hành hương nổi tiếng của thế giới La Mã. Hoàng đế, quan chức và những người giàu có đã đến đây chỉ để chờ nghe “pho tượng biết hát”.
Trên chân tượng ngày nay vẫn còn nhiều dòng chữ Hy Lạp và Latin được những du khách cổ đại khắc lại để xác nhận rằng họ đã nghe thấy âm thanh bí ẩn ấy.
Đến cuối thế kỷ II, khi Hoàng đế Septimius Severus cho sửa chữa pho tượng, âm thanh gần như biến mất.
Hơn 1.800 năm sau, “Memnon” không còn hát nữa.
Nhưng hai pho tượng vẫn ngồi đó.
Sau lưng là dãy núi Thebes khô cằn, phía trước là những cánh đồng xanh ven sông Nile. Xa hơn không nhiều là Thung lũng các vị Vua, đền Hatshepsut và hàng loạt dấu tích của một nền văn minh từng tin rằng cái chết chỉ là cánh cửa bước sang một cuộc đời khác.
Có lẽ điều gây ấn tượng nhất khi đứng trước Colossi of Memnon không phải là kích thước.
Mà là thời gian.
Ba nghìn năm trước, những người thợ đã kéo từng khối đá khổng lồ qua một khoảng cách rất xa để dựng chúng lên.
Bao triều đại đã biến mất. Những vị vua từng được xem như thần linh cũng trở thành lịch sử. Thành phố cổ Thebes chỉ còn lại những phế tích nằm giữa sa mạc.
Vậy mà hai người khổng lồ ấy vẫn ngồi bên bờ Nile, đón bình minh mỗi ngày.
Nếu một lần đến Luxor, hãy thử ghé nơi này thật sớm.
Khi ánh mặt trời đầu tiên chạm vào những khối đá đã bạc màu qua hàng nghìn năm, bạn sẽ hiểu vì sao Ai Cập không chỉ là một điểm đến để tham quan.
Đó là nơi con người có thể đứng trước thời gian và bỗng cảm thấy cuộc đời mình thật ngắn ngủi.
Vũ trụ đã hình thành các hành tinh đá ngay từ thuở sơ khai
Các mô phỏng cho thấy các khối xây dựng của hành tinh đá có thể đã hình thành chỉ 100 triệu năm sau Vụ nổ Bigbang.
Một mô phỏng máy tính mới cho thấy, các vụ nổ của những ngôi sao khổng lồ đầu tiên trong vũ trụ có thể đã tạo ra các vùng cô lập giàu bụi và các nguyên tố như sắt và carbon, đủ để hình thành các vật liệu nền tảng cho hành tinh.
Theo báo cáo trên tạp chí Astrophysical Journal Letters, mô phỏng này đã tạo ra đủ vật liệu đá để có thể hình thành nhiều hành tinh có kích thước tương đương Trái đất, và trong hệ sao trẻ đó cũng có nước.
Những hành tinh đá (có lõi đặc) có thể đã được hình thành sau Bigbang chỉ 100 triệu năm.
“Về nguyên tắc, các thế giới có thể sinh sống được có thể đã hình thành sớm hơn hàng tỷ năm so với những gì chúng ta từng nghĩ, thậm chí trước cả khi các thiên hà đầu tiên xuất hiện,” nhà thiên văn học Daniel Whalen thuộc Đại học Portsmouth (Anh) cho biết.
Trước đây, các nhà nghiên cứu đã cố gắng tìm hiểu thời điểm các hành tinh hình thành bằng cách sử dụng các mô phỏng máy tính quy mô lớn để xác định khi nào các nguyên tố nặng như carbon, oxy và sắt tích tụ đủ.
Tuy nhiên, Whalen và các đồng nghiệp muốn xem xét chi tiết hơn các vùng giàu nguyên tố nhất trong vũ trụ sơ khai, những trường tàn tích còn lại sau khi các ngôi sao khổng lồ đầu tiên của vũ trụ phát nổ dưới dạng siêu tân tinh. Vì những vùng này có hàm lượng nguyên tố nặng cao hơn so với phần còn lại của vũ trụ, các nhà thiên văn học cho rằng có thể chúng đã hình thành các hành tinh sớm hơn nhiều.
Các nhà nghiên cứu đã sử dụng mô phỏng để theo dõi sự tiến hóa của tàn tích từ một loại siêu tân tinh bất ổn cặp, có thể tạo ra lượng nguyên tố nặng gấp 100 lần khối lượng Mặt trời.
Các vật thể lõi phôi thai của các hành tinh hình thành trong quá trình tiến hóa của tàn tích từ một loại siêu tân tinh gọi là siêu tân tinh bất ổn cặp.
Mô phỏng cho thấy tàn tích này hòa trộn với khí trong vũ trụ sơ khai, cuối cùng sụp đổ để hình thành một ngôi sao nhỏ mới được bao quanh bởi một đĩa bụi. Trong đĩa này, các nhà nghiên cứu phát hiện các hành tinh thể, những vật thể đá nhỏ có kích thước từ vài mét đến vài km, là phôi thai của các hành tinh. Đáng chú ý, một số hành tinh thể hình thành ở khoảng cách phù hợp với ngôi sao để có thể tồn tại nước lỏng.
Nhà vật lý thiên văn Jarrett Johnson thuộc Phòng thí nghiệm Quốc gia Los Alamos (New Mexico, Mỹ) nhận định: “Nghiên cứu này cho thấy rằng, ngay từ gần như thời điểm bắt đầu, có thể đã có những điều kiện để sự sống được thiết lập. Tất nhiên, chỉ vì có các hành tinh hình thành không có nghĩa là có sự sống, nhưng các thành phần cần thiết đã được đặt ra sớm nhất có thể.”
Whalen cho biết, có khả năng một số hành tinh sớm nhất này vẫn còn tồn tại. Ngôi sao hình thành trong mô phỏng có khối lượng khoảng 70% khối lượng Mặt trời, khiến nó có tuổi thọ rất dài. Nếu một trong những hệ như vậy lọt vào Dải Ngân hà, chúng có thể dễ dàng được nhận diện là các hệ cổ đại dựa trên thành phần hóa học của chúng.
Hiện ông và các đồng nghiệp đang tiếp tục mô phỏng giai đoạn tiếp theo của sự phát triển hành tinh thể để xem chúng cuối cùng sẽ hình thành những loại hành tinh nào. Họ cũng quan tâm đến việc nghiên cứu điều gì có thể xảy ra xung quanh một loại siêu tân tinh khác được cho là phổ biến hơn trong vũ trụ sơ khai.
“Tôi nghĩ nghiên cứu này mở ra cánh cửa để suy nghĩ về những gì có thể đã xảy ra trong hơn 13 tỷ năm kể từ khi các hành tinh đầu tiên hình thành,” Johnson nói.