Benjamin Franklin sinh ngày 17 tháng 1 năm 1706 tại phố Milk, Boston. Cha Ông, Josiah Franklin, là người làm nến, xà phòng và bán hàng tạp hóa. Mẹ ông là vợ thứ hai của Josiah. Benjamin là con thứ 15 trong 17 người con của cha mình.
Do việc làm ăn của người cha sa sút, năm lên 10, Benjamin buộc phải thôi hẳn việc học ở trường. Năm 12 tuổi, Ben bắt đầu làm công việc của một thợ in cho xưởng in của anh trai James. Do ham học, cậu đọc ngấu nghiến mọi thứ sách báo cậu có được.
Năm 1721, James Franklin lập ra một tờ báo lấy tên là New England Courant. Đây được coi là tờ báo độc lập đầu tiên ở xứ sở này. Khi đó, Ben tỏ ý muốn làm một người viết bài cho báo nhưng bị từ chối. Cậu bèn gửi bài theo bưu điện với bút danh là Mrs Silence Dogood, có vẻ như của một mệnh phụ. Và thật bất ngờ, những bài của cậu đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của dư luận. Nó nêu ra những vấn đề xã hội mà rất nhiều thành phần quan tâm. Tuy nhiên, James đã rất khó chịu khi phát hiện ra tác giả của những bài viết này chính là thằng oắt em trai mình!
17 tuổi, Benjamin bỏ nhà tới Philadelphia để tìm việc làm. Những năm sau đó, chàng trai phải vật lộn mưu sinh. Chứng kiến sự trì trệ của xã hội, năm 1727, Franklin lập ra một hội lấy tên là Junto, gồm “những người thợ và thương nhân hy vọng hoàn thiện chính mình đồng thời hoàn thiện cộng đồng”.
Việc xuất hiện của Junto châm ngòi cho phong trào hình thành các tổ chức xã hội và nghề nghiệp khác nhau ở Philadelphia. Một trong những hoạt động quan trọng của Junto là đọc sách. Để có nhiều sách cho mọi người đọc, Franklin đã lập ra Library Company of Philadelphia (Công ty thư viện Philadelphia). Tiền mua sách do các hội viên đóng góp và các độc giả trả phí khi mượn sách. Công ty này vẫn tồn tại cho đến ngày nay và trở thành một trong những thư viện vĩ đại nhất thế giới.
Năm 1730, Franklin thành lập xưởng in của riêng mình, đồng thời lập ra tờ báo The Pennsylvania Gazette. Tờ báo này nhanh chóng trở thành diễn đàn bàn về việc cải cách xã hội. Với tư cách chủ bút và là người viết những bài quan trọng đề xuất những tư tưởng cách mạng, Benjamin Franklin nhanh chóng có được uy tín của một nhà cải cách thông thái.
Cùng năm, Franklin nhận là cha của một đứa bé tên là William và không cho biết mẹ nó là ai. Ông đã nuôi William cho đến khi người này trưởng thành và được chính Ông dàn xếp để làm thống đốc New Jersey rồi trở thành nhân vật hoàn toàn bất đồng chính kiến với Ông: William là người bảo hoàng, trong khi Benjamin Franklin là nhà cải cách.
Tháng 9 năm đó, Franklin kết hôn (không hôn lễ) với bà Deborah Read, người đã từng có 2 đời chồng. Sau này, họ có với nhau 2 người con. Năm 1731, Franklin trở thành một trong những nhà lãnh đạo của Hội Tam Điểm ở Mỹ. Ông bắt đầu viết sách về tôn chỉ và hoạt động của hội này.
Năm 1743, Ông sáng lập Hội Triết Học Mỹ. Trong những năm tháng đó, vốn kiến thức mà ông tích lũy được về khoa học và kỹ thuật đã đưa Ông lên tầm một nhà khoa học thực thụ.
Ông phát hiện ra là có 2 loại điện và gọi chúng là điện âm và điện dương. Ông nêu ra nguyên lý bảo toàn điện tích. Ông phân loại được các chất thành chất dẫn điện và chất cách điện, nhờ đó đã không gặp nguy hiểm về tính mạng khi thu điện từ các đám mây. Ông là người đầu tiên phát hiện ra sự khác nhau giữa hướng gió trong cơn bão và hướng di chuyển của cơn bão, một điều rất quan trọng đối với dự báo bão. Ông tìm ra nguyên lý làm lạnh bằng hiện tượng bay hơi và đã tạo ra được nhiệt độ âm 14 độ C trong môi trường mùa hè bằng cách cho ether bay hơi.
Ông có những sáng chế đi vào lịch sử khoa học kỹ thuật. Trong số đó có:
- Cột thu lôi,
- Bếp lò Franklin,
- Kính 2 tròng,
- Ống thông tiểu mềm,
...
Năm 1753, Franklin được trao tặng Huy Chương Copley của Hội Hoàng Gia Anh (giống như viện hàn lâm KH).
Năm 1762, Ông được ĐH Oxford trao bằng tiến sĩ danh dự.
Trong đời sống xã hội, Franklin cũng có những đóng góp lớn lao. Ông đã:
- Lập ra công ty cứu hỏa đầu tiên tại Mỹ,
- In một loại tiền chống được việc làm giả thời đó,
- Thành lập viện hàn lâm Philadelphia (thực chất là trường đại học),
- Cùng với TS Thomas Bond thành lập bệnh viện Pennsylvania (bệnh viện đầu tiên ở Mỹ),
Cuối thập niên 1740, Franklin bắt đầu các hoạt động với tư cách quan chức chính quyền. Ngoài các chức vụ trong chính quyền thành phố và vùng Pennsylvania (khi đó chưa phải là một bang của HCQ Hoa Kỳ, vì chưa có liên bang), Ông còn đảm nhiệm công tác ngoại giao với Anh Quốc và Pháp.
Năm 1751, Ông được bầu vào quốc hội Pennsylvania.
Năm 1754, Franklin lãnh đạo phái đoàn Pennsylvania tham gia Đại Hội Albany. Tại đó, Ông đưa ra một tuyên ngôn về Liên Minh Thuộc Địa. Mặc dù tuyên ngôn không được thông qua, nhưng nó là cơ sở về tư tưởng cho Hiến Pháp Hợp Chủng Quốc sau này.
Từ 1757 đến 1762, Franklin sống ở Anh để giành tâm lực cho cuộc đấu tranh chống lại các đặc quyền đặc lợi của một số nhân vật Hoàng Gia Anh tại Mỹ và đòi quyền lợi kinh tế và chính trị cho các thuộc địa của Anh trên đất Mỹ.
Năm 1763, Franklin thay mặt chính quyền Pennsylvania đứng ra dẹp một cuộc nổi loạn. Những người tham gia cuộc nổi loạn này khi đó đang tiến hành một cuộc trả thù tàn bạo đối với những người Indian Mỹ (người ‘da đỏ’). Như vậy, Franklin đã giúp người Indian Mỹ tránh được một cuộc thảm sát. Sau vụ đó, Franklin lớn tiếng lên án những quan điểm phân biệt chủng tộc hiện đang khá phổ biến trong dân chúng gốc Âu.
Trong các năm từ 1764 đến 1774, Franklin liên tục có mặt ở châu Âu để vận động cho công cuộc giải phóng thuộc địa (Mỹ) khỏi sự cai trị của Hoàng Gia Anh. Đến năm 1775 thì Ông trở thành phần tử nguy hiểm nhất trong mắt Hoàng Gia Anh. Tháng 3 năm đó, Ông rời Anh Quốc trở về Mỹ.
Ngày 5 tháng 5 năm 1775, chiến tranh cách mạng Mỹ bắt đầu. Trong cuộc chiến này, một số vùng (mà sau này là các bang) đã liên kết với nhau chống lại sự cai trị của Hoàng Gia Anh. Franklin được chọn làm đại diện của Pennsylvania tham gia Đại Hội Thuộc Địa lần 2.
Năm 1776, Franklin tham gia một ban gồm 5 người soạn thảo TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP (trên cơ sở bản của Thomas Jefferson). Tháng 12 năm 1776, Franklin tới Pháp với tư cách công sứ Hoa Kỳ và làm việc tại đó mãi tới 1785. Trong thời gian đó, Ông đã thuyết phục chính quyền cộng hòa Pháp tham gia liên minh quân sự với Hoa Kỳ. Uy tín của Ông ở Pháp lớn đến mức việc treo chân dung của Ông trong nhà trở thành mốt. Một người là le Ray Chaumont đã thuê họa sĩ Duplessis vẽ chân dung ông. Đến nay, nguyên bản của bức chân dung này vẫn còn được treo trong Phòng Tranh Chân Dung Quốc Gia ở Washington DC, và đó chính là bản gốc của chân dung Ông trên tờ 100 đô Mỹ.
Năm 1785, khi trở về Mỹ, Franklin đã trở thành người có ảnh hưởng thứ hai ở đất nước này, chỉ sau George Washington.
Những năm tháng cuối đời, Ông dành hết tâm sức cho công cuộc giải phóng nô lệ, chủ yếu là người da đen gốc Phi.
FRANKLIN LÀ NGƯỜI DUY NHẤT ĐỂ LẠI CHỮ KÝ TRONG CẢ 4 VĂN KIỆN LẬP QUỐC CỦA HOA KỲ, TRONG ĐÓ CÓ TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP VÀ HIẾN PHÁP.
Benjamin Franklin cũng có năng khiếu và tham gia hoạt động nghệ thuật. Ông từng chơi mấy loại nhạc cụ và sáng tác nhạc. Ông là hội viên Hội Nghệ Thuật Hoàng Gia Anh nhiều năm. 200 năm sau, vào năm 1956, hội này đã lập ra Huy Chương Benjamin Franklin để trao tặng cho những tài năng nghệ thuật xuất sắc.
Về quan điểm Tôn giáo, Franklin tin vào Chúa Jesus.
Về đức hạnh, cả đời Ông luôn giữ vững 13 đức tính: ôn hòa, kín tiếng, ngăn nắp, quyết đoán, tiết kiệm, siêng năng, chân thành, công bằng, điều độ, sạch sẽ, tĩnh tại, giản dị, khiêm tốn (temperance, silence, order, resolution, frugality, industry, sincerity, justice, moderation, cleanliness, tranquility, chastity, humility).
Benjamin Franklin mất ngày 14 tháng 4 năm 1790 tại Philadelphia.
Sưu Tầm
QUÁN CÀ PHÊ VIỆT ĐẦU TIÊN Ở SÀI GÒN & CUỘC TRANH THƯƠNG ĐẦU TK 20…Có thể nói, cho đến cuối thập niên 1910, mỗi ngày người Nam kỳ muốn thưởng thức cà phê trong bữa sáng chỉ có thể đến tiệm nước của Hoa kiều, ngoài một số ít người có điều kiện lui tới các quán Tây.
Chuyện độc quyền tự nhiên này trở nên bình thường, cho đến khi có một xung đột lợi ích xảy ra, làm bùng nổ việc phát triển kinh doanh của người Việt xứ Nam kỳ đầu thế kỷ 20, rất có ý nghĩa trong tiến trình phát triển xã hội miền Nam.
Báo Phụ Nữ Tân Văn số 219 năm 1933 ôn lại câu chuyện hơn mười năm trước đó. Theo bài báo, một buổi sáng ở chợ Cũ đường de la Somme (nay là Hàm Nghi) vào tháng 6 - 1919, giá một ly cà phê bán trong các tiệm nước trước chỉ có 2 xu bỗng dưng vọt lên thêm một xu nữa, thành 3 xu.
Ở khu này, dân làm ăn từ giới công chức làm cho Tây, nhân viên hãng xưởng cho đến người lao động phu phen mỗi sáng đều uống cà phê ăn điểm tâm trong tiệm nước người Hoa. Ban đầu họ thắc mắc vì sao lúc đó chiến tranh đã hết (Thế chiến I) thì lý do gì giá cả lại leo thang.
Họ nổi giận và truyền miệng với nhau, đòi tẩy chay các tiệm nước này dù chúng rất thiết thực với cuộc sống hằng ngày.
Hơn 40 năm sau, lời giải thích đầy đủ được đưa ra từ ký giả Ngọa Long, một nhà báo kỳ cựu từ thời Pháp thuộc trong phóng sự dài kỳ "Sóng bổ ghềnh" trên báo Sóng Thần từ 3-8 đến 11-9 -1974, lược lại như sau:
Khoảng năm 1919, khi có tin Toàn quyền Maurice Long sẽ sang thay Albert Sarraut để mở đường cho tư bản Pháp đầu tư, không khí lạc quan dâng lên ở Đông dương và Nam kỳ. Thấy vậy, các tiệm buôn Hoa kiều mà trước tiên là các tiệm cà phê đã thử làm một phát "nhích giá" để dò ý khách hàng xem sao.
Thường thì vật giá nhích lên có một đồng xu thì chẳng ai để ý, hơn nữa khách Việt do quen thói cái gì có thể "xính xái" được thì bỏ qua. Quả đúng vậy, tách cà phê đen lên giá một xu có gây ồn ào buổi sáng thì tới chiều là hết ngay, nhưng lần này có một sự tình cờ làm nên lịch sử.
Lúc đó tại căn nhà phố mướn của thầy Ký Biên ngành đường sắt trong hẻm đường Bourdais (nay là đường Calmette) có nuôi cơm tháng. Phần đông những người ăn cơm tháng đều là bạn với nhau.
Trong số này có ký giả Trần Văn Chim (bút hiệu Vân Phi) và một người nữa là ông Huỳnh Công Thạnh khi ấy là viên chức Sở Hỏa xa. Ký giả Trần Văn Chim khi ấy viết cho tờ Thời Báo. Trưa hôm xảy ra vụ cà phê lên giá, về nhà trọ, ông bị các bạn chất vấn và khích ông là phải có thái độ.
Trường hợp nầy rất khó xử, bởi theo ông Chim đánh giá, vấn đề này chỉ đáng một đồng xu… nghĩa là có gì quan trọng đâu mà phải "chạy nhựt trình". Nhưng bạn bè "khích tướng" mà không có bài nào kêu ca cho họ mát ruột thì đâu có được, lại còn bị mất mặt nữa. Do đó ngay sau đó, trên tờ Thời Báo có cái tin "cà phê của người Hoa lên giá vô lý".
Đồng thời báo Công Luận cũng lên tiếng với lời lẽ nhẹ nhàng, đề nghị nếu Hoa kiều biết phải quấy để giữ thế làm ăn lâu dài thì nên hạ giá cà phê xuống, đừng tỏ ra tham lam để bị nghĩ là bóc lột khách hàng Việt.
Suốt tuần lễ đầu, lần lượt các báo quốc ngữ đều đưa tin này với thái độ chung là "dĩ hòa vi quý". Trong thời gian ấy, giới thầy thợ vẫn đến ăn hủ tíu uống cà phê tại các tiệm Hoa kiều - còn biết ăn uống đâu bây giờ - vừa chờ xem thái độ các "xì thẩu" thế nào?
Nhưng trái lại, thấy các báo hô hào mà khách hàng vẫn không bỏ đi, các "xì thẩu" đều đồng lòng không hạ giá, đám phổ ky lại thiếu hẳn sự lễ độ vui vẻ lâu nay. Có lúc họ còn thách đố: "Nếu Nị chê đây bán mắc thì đi chỗ khác ăn, thử coi. Ở đâu cũng vậy mà!".
Đứng trước điều đó, người Việt mới thấy thấm thía và sau đó là tìm cách đối phó. Trước hết, họ cho rằng nếu các tiệm cà phê Hoa kiều đồng lòng giữ giá thì khách hàng Việt cũng đồng lòng… tẩy chay, đến chừng nào họ "chịu thua" hạ giá xuống mới thôi.
Đến nước này, tờ Lục Tỉnh Tân Văn do ông Lê Hoằng Mưu làm chủ bút bị kẹt điều gì đó với chính quyền nên rút lui, không cổ xúy nhưng cũng không phản đối. Chỉ còn lại có ba tờ Công Luận, Thời Báo và Nông Cổ Mín Đàm đi tiếp.
Từ đó, trên tờ Công Luận người ta thấy liên tiếp một loạt bài: "Ai là người An Nam? Ai là người biết nhục? Kẻ ăn nhờ ở đậu đá chủ nhà!" (ám chỉ Hoa kiều).
Loạt bài này đều ký tên Huỳnh Thị Lợi mà trong làng báo có người biết đó là "ẩn danh" của thầy ký Huỳnh Công Thạnh, nhân viên Sở Trưởng Tiền mới, thuộc ngành đường sắt, vì lúc bấy giờ công chức không có quyền viết báo.
Vừa viết báo vừa thăm dò, một sáng nọ Ký Thạnh và hai người bạn nữa thử vào tiệm cà phê Hoa kiều hiệu Trung Châu đối diện nhà ga xe lửa (nay là góc đường Lê Lai - Phan Châu Trinh) thì thấy tiệm này đã không hạ giá mà lại còn dùng một thứ tách nhỏ hơn để bán.
Sở dĩ có thêm chuyện này vì năm ấy vừa xảy ra việc Nhật Bản xua quân vào lãnh thổ Trung Hoa nên Hoa kiều hải ngoại nổi lên phong trào tẩy chay hàng Nhật. Các tiệm Hoa kiều đồng lòng đem ly tách và đồ Nhật ra đập bỏ, nên phải tạm thời lấy ly tách xấu và nhỏ hơn để mua bán. Có lẽ đang hăng máu với cuộc tẩy chay Nhật Bản lại gặp lúc bị người Việt nổi lên tẩy chay, nên họ đổ quạu rồi nhất định "ăn thua đủ" luôn với người Việt chăng?
Thấy họ giữ vững lập trường trong khi sự hô hào của báo chí chưa được đa số nghe theo, thầy Ký Thạnh nghĩ ra sáng kiến là thảo một bức "thư luân lưu", vừa lập ra một tiểu ban gồm những người có nhiệt huyết, ngấm ngầm đưa "thư luân lưu" đến nhờ các viên chức Việt có uy tín và thế lực tại các Ty, Sở ký tên vào, dùng nó làm sức ép kêu gọi (bắt buộc) mọi viên chức người Việt tán thành chuyện tẩy chay cà phê Hoa kiều.
Nhân vật sốt sắng ký tên đứng đầu sổ là ông nhân viên văn phòng Nguyễn Phan Long, Sở Thương Chánh (sau này là nhà viết báo Pháp ngữ, chánh trị gia nổi danh dưới thời Quốc trưởng Bảo Đại). Kết quả là bức "thư luân lưu" kêu gọi được hầu hết các Ty, Sở tẩy chay.
Cùng lúc ấy, tờ Thời Báo thay đổi bộ biên tập. Cựu chủ bút Trần Quang Có ra đi và ông Hồ Văn Lang lên, có thêm cụ Trương Duy Toản, Nguyễn Thành Út. Họ là những người có máu cách mạng nên thừa thắng xông lên, tờ Thời Báo mạnh dạn tổ chức bài vở để lấy điểm với độc giả.
Trước tiên, báo cho người đi tập hợp học trò Trường máy (Ecole des Mécaniciens) là "thứ dữ" trong hàng ngũ học sinh thời bây giờ để "xuống đường" ngăn khách Việt vào ăn uống cà phê tại các tiệm Hoa kiều. Nếu chặn không được, đám học trò này từ bên ngoài sẽ dùng gạch đá ném vào, ai ngoan cố không hưởng ứng cuộc tẩy chay bị lỗ đầu chảy máu ráng chịu.
Thấy trò nầy hữu hiệu, phe báo Công Luận tiếp tục tổ chức các nhóm khác, phần đông là thầy thợ tình nguyện đi hỗ trợ học sinh, thế là phong trào đi lần đến bạo động thật sự. Bấy giờ các tiệm cà phê Hoa kiều mới họp lại và nhờ các trưởng bang Hoa kiều ra kế sách lo lót Biện Tây, Biện Chà (sếp cảnh sát người Pháp và người gốc Ấn) can thiệp.
Nhưng Biện Tây và Chà là số quá ít, còn đa số lính Mã tà lại đặt dưới quyền chỉ huy của sếp đều là người Việt. Các sếp này cũng ý thức được quyền lợi của đồng bào mà chính họ cũng bị bóc lột nên thay vì can thiệp, có nhiều đám phá hoại còn được họ "châm dầu vào lửa" cho cháy thêm coi chơi.
Lúc đó có tin Trường máy sẽ cấm học trò ra ngoài, các nhà báo lo sợ phong trào bị xẹp xuống nên họ bí mật đi vận động với anh em lính tập ở thành Ô Ma tăng cường. Lính tập phần đông tùng chinh bên Pháp mới về, vốn không ngán các sếp trắng sếp đen của Mã tà, nên có thêm lực lượng này, Hoa kiều mới rúng động.
Đến đây thì bức "thư luân lưu" cũng đã được cho in ra để biến thành truyền đơn bí mật phát ra cho quần chúng để tiếp tay với các báo, nhất là nhằm vào giới thợ thuyền, công nhân. Do đó, phong trào tẩy chay bành trướng lên các tỉnh miền Đông, xuống các tỉnh miền Tây.
Mọi người Việt đều đồng tình là Hoa kiều thời ấy làm ăn thiếu đứng đắn, không có nhân tình, chỉ biết thủ lợi.
Tuy nhiên, phong trào càng bành trướng nhanh thì phía những người chủ xướng vướng phải một vấn đề gần như nan giải, đó là câu hỏi từ phía đồng bào: "Tẩy chay, đồng ý! Không vào ăn uống cà phê hủ tiếu trong các tiệm Hoa kiều, đồng ý! Nhưng, tẩy chay cà phê Hoa kiều mà không có cà phê An Nam, thì đồng bào các giới làm việc ở Sài Gòn làm sao đây? Ăn đâu uống đâu đây?!".
Bây giờ mới là chuyện lớn. Ban đầu, các ký giả chỉ nghĩ hô hào đồng bào tẩy chay để dằn mặt thì Hoa kiều sẽ biết sợ mà xuống giá, hoặc từ nay về sau không dám vô cớ lên giá, móc túi khách hàng nữa.
Ai ngờ là người Việt chỉ mới biết đồng lòng đây thôi, trong khi Hoa kiều vốn đồng lòng từ lâu. Họ nhận thấy phong trào này bất quá như ngọn lửa rơm chẳng có gì đáng lo, khi mà người Việt chưa có một tiệm cà phê An Nam nào mà đòi tẩy chay cà phê người Hoa thì sức mấy họ ngán và chịu thua.
Họ đánh giá đúng. Đến đây, phía người chủ xướng phong trào cũng nhận ra "mâu thuẫn" đó chính là chỗ yếu thế. Bây giờ đã leo lên lưng cọp, lòng tự ái dân tộc sau cuộc tẩy chay chẳng đi tới đâu lại vẫn phải ăn hủ tiếu uống cà phê của họ hoài sao?
Trong đó có một người "phóng lao phải theo lao", đó là thầy Ký Thạnh. Hô hào tẩy chay tiệm Hoa kiều mà không chỉ ra chỗ nào có tiệm cà phê An Nam cho đồng bào hưởng ứng, thì cũng bằng "đem con bỏ chợ"!
Do đó, câu nói khí khái của Ngô Thời Nhiệm trả lời Đặng Trần Thường được Ký Thạnh đem ra áp dụng: "Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế". Ký Thạnh một mặt hứa hẹn với các báo, một mặt vỗ ngực cam kết với anh em là sẽ xin nghỉ việc công sở, nhứt định trong một tuần lễ, sẽ có tiệm cà phê An Nam ra đời.
May mắn, lúc ấy có ông Phủ Chiếu tức nhà ái quốc nổi danh Gilbert Trần Chánh Chiếu vừa giàu vừa có tâm vốn được chính quyền nể nang, dân chúng quý mến.
Khi biết chí khí của thầy Ký Thạnh, cụ Gilbert liền sẵn sàng cho mượn - thay vì cho mướn - căn phố lầu của cụ ở số 9 đường Gallieni (nay là Trần Hưng Đạo) để Ký Thạnh thử thời vận, lập tiệm Cà phê An Nam để tranh thương.
Nhờ đó Ký Thạnh giữ đúng lời hứa, chỉ nội trong tuần lễ sau cho khai trương ngay tiệm lấy tên "Cà phê An Nam Huỳnh Công Thạnh", là tiệm cà phê của người Việt đầu tiên ra đời ở Sài Gòn, có trước những tiệm sau này như Đức Thành Hưng, Chung Nhuận Hy và Nguyễn Văn Đắc.
Tiệm rất được các giới đồng bào hoan nghênh ủng hộ, nhất là hầu hết giới công chức. Nhân viên các Sở Hỏa xa, Trường tiền, Trường máy gần đó đều tình nguyện làm khách hàng trung thành, nhất là vì tiệm nầy có món hủ tíu Mỹ Tho còn ngon hơn hủ tiếu Hoa kiều.
Nhờ hội đủ "Thiên thời, địa lợi, nhân hòa" tiệm cà phê An Nam Huỳnh Công Thạnh mở đầu cho kỷ nguyên "Người Việt dùng hàng Việt".
rất được các giới đồng bào hoan nghênh ủng hộ, nhất là hầu hết giới công chức. Nhân viên các Sở Hỏa xa, Trường tiền, Trường máy gần đó đều tình nguyện làm khách hàng trung thành, nhất là vì tiệm nầy có món hủ tíu Mỹ Tho còn ngon hơn hủ tiếu Hoa kiều.
Nhờ hội đủ "Thiên thời, địa lợi, nhân hòa" tiệm cà phê An Nam Huỳnh Công Thạnh mở đầu cho kỷ nguyên "Người Việt dùng hàng Việt".
Tuy nhiên, tâm lý của người đời "được voi đòi tiên". Dù sau đó đã có thêm nhiều tiệm cà phê An Nam ra đời, như ở Bà Chiểu có tiệm Hai Định hút hết khách hàng công chức Tòa Bố Gia Định, ở Sài Gòn có tiệm cà phê của ông Huyện Hội đường Hamelin (nay là Huỳnh Thúc Kháng) nhưng đồng bào ăn hủ tíu Mỹ Tho, hủ tíu Nam Vang mà còn thiếu các món bánh bao, bánh tiêu, giò cháo quẩy, nhứt là món xíu mại thì vẫn còn thèm.
Vấn đề này lại được các báo nhắc tới vì thông cảm đồng bào "ăn quen nhịn không quen", hô hào người Việt ai có tài làm bánh nên ra tay.
Tờ Thời Báo khuyến khích bằng cách treo giải thưởng cho bất cứ tay thợ Việt nào làm được bánh bao hay xíu mại thưởng 1.000 đồng, bánh tiêu hay giò cháo quẩy thưởng 500 đồng.
Báo Công Luận hô hào người Việt đứng ra lập gánh mì, gánh hủ tíu (lối bán hàng rong và cũng là lối buôn bán phố biến bấy giờ), một mặt kêu gọi cùng treo giải thưởng để khuyến khích, hoặc bỏ tiền cho vay, để người tình nguyện lấy đó làm vốn và nhà báo đứng "bảo kê".
Cùng với phong trào mở tiệm cà phê, phong trào người Việt lập tiệm "chạp phô" (tạp hóa) cũng phát triển, bán gạo, than, củi, dầu hôi, nước mắm... tranh thương với các tiệm Hoa kiều...
Sự ra đời của những tiệm cà phê Việt như Annam Huỳnh Công Thạnh, Đức Thành Hưng, Huyện Hội, Thông Vịnh (tức Hai Vịnh Bà Chiểu) trong góc nhìn hiện nay chỉ là những hoạt động bình thường, nhưng trong thời kỳ Pháp thuộc là sự cạnh tranh không đơn giản, trong đó có sự can đảm và ý chí tự cường của người Việt cùng sự hỗ trợ nhiệt thành của quần chúng, giới báo chí và tư sản, trí thức nặng lòng với dân tộc. Đây là sự kiện có ý nghĩa của ngành dịch vụ ăn uống do chính người Việt thiết lập ở Nam kỳ đầu thế kỷ 20 - trận địa mà họ đã buông bỏ và bị Hoa kiều chiếm lĩnh từ lâu.
Trích bài viết của tác giả Phạm Công Luận, báo Tuổi trẻ cuối tháng

CHIẾN DỊCH “THẢM THẦN” VÀ BIỂN NGƯỜI NGHẸT THỞ TRÊN VIỄN DUYÊN HẠM RMS QUEEN ELIZABETH…
Bức ảnh này thực sự là một trong những khoảnh khắc mang tính biểu tượng nhất của lịch sử nhiếp ảnh thế giới về ngày chiến thắng. Nó ghi lại một "biển người" đúng nghĩa đen—khoảnh khắc hàng ngàn binh lính Đồng minh (chủ yếu là quân nhân Hoa Kỳ) chen chúc trên boong tàu để ngắm nhìn tượng Nữ thần Tự do khi viễn dương hạm RMS Queen Elizabeth tiến vào cảng New York.
Chuyến hải trình này nằm trong Chiến dịch Magic Carpet (Chiến dịch Thảm Thần)—một nỗ lực hậu cần khổng lồ nhằm đưa hàng triệu binh sĩ từ các chiến trường châu Âu và Thái Bình Dương trở về quê mẹ sau khi Đệ nhị Thế chiến kết thúc vào năm 1945.
RMS Queen Elizabeth được đóng để làm một tàu khách hạng sang xuyên Đại Tây Dương (thuộc hãng tàu Cunard Line), là thế hệ đàn em và là cặp bài trùng với chiếc RMS Queen Mary. Tuy nhiên, khi tàu vừa hoàn thành vào năm 1940 thì Thế chiến II bùng nổ.
Để bảo vệ báu vật này khỏi các cuộc không kích của Đức Quốc Xã, chính phủ Anh đã tổ chức một kế hoạch nghi binh ngoạn mục. Họ tung tin đồn rằng tàu sẽ di chuyển đến Southampton, nhưng ngay khi ra khơi, thuyền trưởng mới mở mật lệnh và cho tàu chạy thẳng một mạch băng qua Đại Tây Dương sang New York, Mỹ. Đó chính là chuyến hải trình đầu tiên (maiden voyage) của nó—không kèn không hoa, toàn thân sơn màu xám xịt của thời chiến thay vì màu áo rực rỡ của một du thuyền hạng sang.
Khi Mỹ tham chiến, RMS Queen Elizabeth được hoán cải công năng thành tàu chở quân. Cùng với người chị em Queen Mary, hai chiếc tàu này trở thành những phương tiện chở quân lớn nhất và nhanh nhất thế giới thời bấy giờ.
Từ một du thuyền thiết kế cho khoảng 2.200 hành khách, nó được cải tạo để nhồi nhét tới 15.000 binh sĩ mỗi chuyến.
Với vận tốc vượt trội (trên 28 hải lý/giờ), RMS Queen Elizabeth chạy nhanh hơn cả ngư lôi của tàu ngầm U-boat Đức. Vì vậy, nó thường xuyên đơn độc băng qua đại dương mà không cần bất kỳ hạm đội hải quân nào hộ tống bảo vệ. Người Đức bất lực nhìn nó di chuyển và đặt cho nó biệt danh là "Bóng ma xám" (Grey Ghost).
Thủ tướng Anh Winston Churchill từng thừa nhận rằng sự góp mặt của hai chiếc siêu tàu này (Queen Elizabeth và Queen Mary) đã góp phần làm cuộc chiến ở châu Âu kết thúc sớm hơn một năm nhờ tốc độ điều quân thần tốc.
Dù ngày trở về ngập tràn niềm vui chiến thắng, hành trình vượt đại dương trong Chiến dịch Thảm Thần không hề dễ dàng. Vì số lượng người quá đông, các binh sĩ phải ngủ theo ca (hệ thống giường tầng nóng - người này dậy gác hoặc lên boong thì người khác nằm xuống ngủ).
Không gian bên dưới boong rất ngột ngạt và nóng bức. Đó là lý do tại sao trong bức ảnh trên, khi tàu vừa tiến vào eo biển New York, gần như toàn bộ binh lính đã đổ xô lên các tầng boong ngoài trời. Họ vừa để hít thở khí trời, vừa để tranh nhau ngắm nhìn đất mẹ sau những năm tháng khói lửa rùng rợn ở chiến trường châu Âu.
Sau khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử đưa hơn 750.000 chiến sĩ hồi hương, RMS Queen Elizabeth mới chính thức được trả lại công năng là một tàu chở khách siêu sang trong suốt hai thập kỷ (1946 - 1968), phục vụ giới thượng lưu vượt đại dương.
Tuy nhiên, số phận cuối đời của nó lại khá buồn. Vào cuối thập niên 1960, sự phát triển của ngành hàng không khiến các tàu viễn dương lớn mất chỗ đứng. Tàu bị bán lại nhiều lần và cuối cùng được một trùm sành sỏi về hàng hải ở Hong Kong mua lại với ý định biến nó thành một trường đại học nổi trên biển (được đặt tên là Seawise University).
Thế nhưng, vào tháng 1 năm 1972, khi đang trong quá trình tân trang lại ở cảng Hong Kong, một vụ hỏa hoạn lớn bất ngờ bùng phát. Con tàu bốc cháy dữ dội, lật nghiêng và chìm xuống làn nước cảng thơm, khép lại chương cuối đầy tiếc nuối của một huyền thoại đại dương.
Nhìn lại bức ảnh năm 1945, người ta vẫn không khỏi kinh ngạc trước cái gọi là "biển người" và sức sống mãnh liệt của một thế hệ vừa bước ra khỏi lằn ranh sinh tử.
Từ FB 8 Sài Gòn
Bí mật phía sau 81 chiếc đinh vàng trên cổng Tử Cấm Thành
81 chiếc đinh vàng trên cổng chính Tử Cấm Thành tượng trưng quyền lực tối thượng của hoàng đế, trong khi một cánh cổng khác chỉ có 72 chiếc vì phong thủy đặc biệt.
Du khách mặc trang phục truyền thống, chụp ảnh bên cánh cổng của Tử Cấm Thành, nay là Bảo tàng Cố Cung, ngày 2/10/2025. Ảnh: Xinhua. |
Du khách đến Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh thường bị thu hút bởi những cánh cổng đỏ uy nghi, nhưng phía sau vẻ ngoài nổi bật ấy là hàng trăm năm quy tắc phong kiến và tín ngưỡng truyền thống Trung Quốc.
Những chiếc đinh cửa màu vàng được xếp thành hàng ngay ngắn không chỉ để trang trí mà từng là biểu tượng quyền lực dành riêng cho hoàng gia, không thể xuất hiện tùy tiện trong xã hội Trung Quốc cổ đại, theo SCMP.
Dưới thời nhà Minh (1368-1644) và nhà Thanh (1644-1912), đinh cửa tượng trưng cho địa vị xã hội và bị kiểm soát bằng nhiều quy định nghiêm ngặt. Theo quan niệm truyền thống Trung Hoa, số lẻ tượng trưng cho dương (ánh sáng), còn số chẵn tượng trưng cho âm (bóng tối). Do đó, số lượng đinh cửa bắt buộc phải là số lẻ. Số 9, số lẻ lớn nhất dưới 10, được xem là biểu tượng của quyền lực tối thượng và thiên mệnh nên chỉ hoàng đế mới được sử dụng.
Tại Tử Cấm Thành, các cánh cổng chính được sơn đỏ - màu sắc tượng trưng cho sự trang nghiêm và thịnh vượng. Trên mỗi cánh cổng là 81 chiếc đinh vàng, sắp xếp theo bố cục 9x9. Tuy nhiên, cổng Đông Hoa chỉ có 72 chiếc đinh, trở thành ngoại lệ hiếm hoi trong quần thể cung điện.
Du khách tham quan Tử Cấm Thành trong kỳ nghỉ lễ Ngày Quốc tế Lao động. Ảnh: Reuters. |
Một giả thuyết cho rằng đây là "quỷ môn", nơi linh cữu các hoàng đế triều Thanh như Thuận Trị, Gia Khánh và Đạo Quang được đưa ra khỏi Tử Cấm Thành. Việc sử dụng số chẵn nhằm phân biệt giữa người sống và người đã khuất.
Giả thuyết khác liên quan đến Sùng Trinh - hoàng đế cuối cùng của triều đại nhà Minh, được cho là đã chạy qua cổng Đông Hoa trước khi treo cổ tự vẫn khi triều đại sụp đổ. Sau khi nhà Thanh lên nắm quyền và xây dựng lại cổng, họ bỏ đi một hàng đinh như cách "trừng phạt" cánh cổng vì không bảo vệ được triều đại trước.
Một cách giải thích khác liên quan đến phong thủy. Trong ngũ hành, hướng Đông thuộc hành Mộc, mà Mộc khắc Thổ. Người xưa tin việc biến số lượng đinh cửa thành số chẵn sẽ làm suy yếu năng lượng của hành Mộc.
Trong chế độ phong kiến Trung Quốc, chỉ hoàng đế mới được phép dùng 81 đinh cửa. Dưới thời nhà Thanh, phủ của các hoàng tử dùng 63 chiếc, còn con trai của họ dùng 45 chiếc. Các tước vị công và hầu lần lượt dùng 49 và 25 chiếc đinh. Họ cũng chỉ được sử dụng đinh cửa làm bằng sắt, dân thường không được phép sử dụng đinh cửa.
Màu sắc cánh cổng cũng phản ánh địa vị xã hội. Dưới triều Thanh, cửa đỏ chỉ dành cho hoàng gia và quan lại. Người giàu có thể sơn cửa màu đen, trong khi dân thường không được sơn cửa.
Toàn cảnh Tử Cấm Thành ghi lại trọn vẹn vẻ tráng lệ của địa điểm nổi tiếng này. Ảnh: Eugene Lee. |
Ngoài yếu tố trang trí, đinh cửa còn có chức năng gia cố vì các cánh cổng cung điện thường rất lớn và ghép từ nhiều tấm gỗ. Chúng được làm nổi hình tròn để tăng tính thẩm mỹ. Do bên trong rỗng, thời nhà Tống (960-1279), chúng từng được gọi bằng biệt danh "bọt nước nổi".
Phong tục chạm vào đinh cửa của du khách ngày nay cũng có nguồn gốc lịch sử. Thời nhà Minh, phụ nữ có tục nhắm mắt chạm vào đinh cửa khi ra ngoài vào đêm 16 tháng Giêng Âm lịch, một trong số ít dịp phụ nữ thời xưa được phép đi chơi đêm. Người xưa gọi hoạt động này là "đi bộ xua bệnh". Họ tin việc chạm vào đinh cửa sẽ mang lại may mắn.
Một số người còn tin chạm vào đinh cửa sẽ giúp sinh con trai vì từ "đinh cửa" trong tiếng Trung là "men ding", phát âm giống cụm từ chỉ "con trai trong gia đình". Theo quan niệm dân gian, chạm được chiếc đinh càng cao thì vận may càng lớn.
Đan Châu Tạp Chí Tri Thức
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét