a

THƯƠNG CHÚC THẦY CÔ VÀ ANH CHỊ EM ĐỒNG MÔN TRƯỜNG HOÀNG DIỆU MỘT NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 AN LÀNH VÀ HẠNH PHÚC

b

b
CHÚC QUÝ THẦY CÔ VÀ ĐỒNG MÔN HOÀNG DIỆU NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 VẠN SỰ NHƯ Ý - AN KHANG THỊNH VƯỢNG.

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2026

Giữa rừng Amazon có một thành phố thất lạc ẩn dưới những ngọn núi kỳ lạ?

Giữa rừng Amazon rộng lớn, những ngọn núi có hình kim tự tháp từng khiến người ta tin rằng một thành phố cổ bị lãng quên đang ẩn dưới tán rừng.

Nằm ở vùng Madre de Dios, phía Đông Nam Peru, Paratoari nổi tiếng với những cấu trúc đá có hình dáng kỳ lạ, trông giống một quần thể kim tự tháp khổng lồ giữa rừng Amazon. Chúng còn được gọi là Kim tự tháp Pantiacolla. Vị trí này nằm gần khu vực Manu, một vùng rừng nhiệt đới đặc biệt hoang sơ của Peru.


Ảnh: atlasobscura.com

Câu chuyện bắt đầu trở nên ly kỳ vào năm 1976, khi một ảnh vệ tinh của NASA mang số hiệu C-S11-32W071-03 cho thấy những dạng hình học kỳ lạ nằm giữa thảm rừng. Từ trên cao, các cấu trúc xuất hiện thành những hình chóp tương đối đều, khiến nhiều người đặt câu hỏi: liệu đây có phải dấu tích của một nền văn minh cổ đại?

Ảnh: machupicchuamazonperu.com

Sự bí ẩn càng được khuếch đại bởi truyền thuyết về Paititi, thành phố hoặc vùng đất huyền thoại thường được gắn với người Inca. Trong nhiều câu chuyện, Paititi được cho là một nơi trú ẩn bí mật của người Inca ở phía Đông dãy Andes sau khi đế chế này sụp đổ trước người Tây Ban Nha. Vì thế, những “kim tự tháp” giữa rừng nhanh chóng trở thành mục tiêu của các nhà thám hiểm săn tìm thành phố thất lạc.

Nhưng khi con người thực sự tiếp cận Paratoari, câu chuyện lại trở nên khác.


Ảnh: paratoari.com

Trong một chuyến thám hiểm năm 1996, nhà thám hiểm Gregory Deyermenjian cùng các cộng sự khảo sát khu vực và nhận thấy những “kim tự tháp” không phải công trình do con người xây dựng. Chúng được xác định là những sống núi đá sa thạch bị xói mòn, một dạng địa hình tự nhiên có thể tạo ra các sườn núi cụt với hình dạng rất giống kim tự tháp.

Điều đó không có nghĩa khu vực xung quanh Paratoari hoàn toàn không có dấu vết con người. Các nhà thám hiểm từng ghi nhận hình khắc trên đá, đường đá và những nền đất trong khu vực, cho thấy con người cổ đại từng hiện diện ở vùng này. Tuy nhiên, những bằng chứng đó không chứng minh rằng chính các cấu trúc hình kim tự tháp là công trình nhân tạo hay chúng chính là Paititi.

Đến nay, một số nhà nghiên cứu và nhà thám hiểm độc lập vẫn cho rằng vùng Paratoari có thể chứa những dấu tích khảo cổ đáng chú ý. Các cuộc khảo sát bằng ảnh vệ tinh và máy bay không người lái cũng tiếp tục được sử dụng để tìm kiếm những dấu hiệu khó nhận ra dưới tán rừng. Tuy nhiên, những tuyên bố về việc đã xác định được Paititi vẫn chưa được giới khảo cổ học chấp nhận như một kết luận đã được chứng minh.

Thanh Bình/ Tri Thức và Cuộc Sống

Bí mật 1.500 năm của những quả cầu bí ẩn ở Trung Mỹ

Những quả cầu đá gần như hoàn hảo giữa rừng nhiệt đới Costa Rica đã khiến giới khảo cổ tranh luận suốt nhiều thập kỷ.

Nằm chủ yếu tại vùng đồng bằng sông Diquís ở miền Nam Costa Rica, những quả cầu đá này là di tích của các xã hội bản địa thời tiền Colombo, có niên đại khoảng năm 500–1500. Bốn khu khảo cổ tiêu biểu gồm Finca 6, Batambal, El Silencio và Grijalba-2 đã được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới từ năm 2014. Các quả cầu có đường kính từ khoảng 0,7 đến 2,57 m, nổi bật bởi hình dạng tròn gần như hoàn hảo và cách chúng từng được bố trí trong các khu định cư.

Ảnh: Pinterest

Điều khiến chúng trở thành một trong những bí ẩn khảo cổ nổi tiếng nhất Trung Mỹ là chúng thực sự dùng để làm gì?

Một giả thuyết cho rằng những quả cầu là biểu tượng của quyền lực và địa vị. Những ngôi làng quan trọng thường sở hữu nhiều quả cầu hơn, đồng thời có những quả lớn và được hoàn thiện công phu hơn. Theo các nhà nghiên cứu Costa Rica, việc chế tác và vận chuyển chúng đòi hỏi kỹ thuật, nguồn lực và sự tổ chức xã hội đáng kể. Vì vậy, bản thân quả cầu có thể đã là một cách để thủ lĩnh thể hiện quyền lực và uy tín.

Ảnh: Pinterest

Một giả thuyết khác hấp dẫn hơn liên quan đến bầu trời. Một số nhóm quả cầu được phát hiện từng xếp thành đường thẳng, đường cong hoặc hình tam giác. Các cách sắp đặt này có thể liên quan đến chuyển động của Mặt Trời hoặc các thiên thể, thậm chí gắn với lịch nông nghiệp và nghi lễ. Tuy nhiên, đây vẫn là giả thuyết chứ chưa phải kết luận chắc chắn, bởi nhiều quả cầu đã bị di chuyển khỏi vị trí nguyên thủy.

Ảnh: Pinterest

Khoảng trống thông tin ấy lại tạo điều kiện cho những câu chuyện kỳ bí hơn xuất hiện. Có người từng cho rằng các quả cầu liên quan đến Atlantis, là dấu tích của một nền văn minh thất lạc, thiết bị định vị cổ đại hay thậm chí những “cánh cửa” xuyên thời gian. Một số giả thuyết còn gán chúng cho người ngoài hành tinh. Tuy nhiên, chính cơ quan quản lý di sản Costa Rica nhấn mạnh rằng những cách giải thích này không có cơ sở khoa học.

Điều thú vị là bí ẩn thật sự có lẽ còn hấp dẫn hơn những câu chuyện viễn tưởng. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy bằng chứng về công cụ và kỹ thuật chế tác đá, đồng thời nghiên cứu những quả cầu vẫn còn nằm trong bối cảnh khảo cổ nguyên thủy. Vì vậy, câu hỏi ngày nay không còn đơn giản là “ai đã tạo ra chúng?”, mà là người Diquís muốn nói điều gì với hậu thế bằng những khối đá tròn khổng lồ ấy?


Xem video: Độc đáo rối nước nơi làng quê Việt Nam. Nguồn Cục Thông tin cơ sở và Thông tin đối ngoại

Thành phố Ai Cập cổ dưới đáy biển và bí mật khiến khảo cổ học kinh ngạc

Từng là cửa ngõ thương mại quan trọng của Ai Cập cổ đại, Thonis-Heracleion biến mất dưới biển và chỉ được nhìn thấy trở lại sau hơn một thiên niên kỷ.
Ngày nay, dưới làn nước đục của vịnh Aboukir ngoài khơi Ai Cập, các nhà khảo cổ vẫn đang khám phá tàn tích của một thành phố từng cực kỳ sầm uất: Thonis-Heracleion. Thành phố được người Ai Cập gọi là Thonis, còn người Hy Lạp gọi là Heracleion. Hai cái tên tưởng như thuộc về hai thành phố khác nhau, nhưng một tấm bia được tìm thấy dưới đáy biển đã giúp xác nhận chúng thực chất là cùng một nơi.


Ảnh: viatorimperi

Trước khi Alexandria được Alexander Đại đế thành lập năm 331 trước Công nguyên, Thonis-Heracleion giữ vai trò như một trong những cửa ngõ hàng hải quan trọng nhất của Ai Cập. Các tàu từ thế giới Hy Lạp muốn tiến vào Ai Cập phải đi qua khu vực cảng này. Những phát hiện dưới đáy biển cho thấy nơi đây từng có một hệ thống cảng, kênh đào và hồ nước phức tạp, cùng hàng trăm mỏ neo và nhiều xác tàu.

Thành phố cũng không chỉ là một trung tâm thương mại. Một quần thể đền thờ lớn dành cho thần Amun và các vị thần Ai Cập từng đứng tại đây. Những bức tượng khổng lồ, tượng thần, đồ trang sức, tiền xu, đồ gốm và các vật dụng nghi lễ được tìm thấy dưới lớp trầm tích đã cho thấy một đô thị giàu có, nơi các nền văn hóa Ai Cập và Hy Lạp giao thoa.

Ảnh: hiltifoundation

Nhưng vì sao cả một thành phố lại chìm xuống biển?

Câu trả lời không phải là một thảm họa duy nhất. Các nghiên cứu cho thấy vùng châu thổ sông Nile nơi Thonis-Heracleion tọa lạc vốn được tạo nên bởi những lớp trầm tích mềm và chứa nhiều nước. Theo thời gian, đất bị nén lún, trong khi mực nước biển tương đối tăng lên. Thành phố vì thế dần trở nên thấp hơn và dễ tổn thương hơn.

Sau đó, những trận động đất và sóng thần có thể đã tạo ra một thảm họa lớn hơn. Rung chấn mạnh có thể khiến lớp đất sét chứa nhiều nước bị hóa lỏng – biến nền đất vốn có khả năng chịu lực thành một khối vật chất mất ổn định. Các công trình nặng phía trên có thể sụp xuống, trong khi nước biển tràn vào. Một phần lớn khu vực ven bờ vì thế bị hạ thấp đột ngột.

Ảnh: Pinterest

Đến khoảng thế kỷ VIII, Thonis-Heracleion đã biến mất hoàn toàn dưới biển. Trong hơn 1.000 năm, thành phố gần như chỉ còn tồn tại trong những ghi chép cổ.

Mãi đến cuối thế kỷ XX, các nhà khảo cổ dưới nước mới bắt đầu tìm kiếm nó một cách có hệ thống. Những cuộc khảo sát được triển khai từ năm 1996 và các dấu tích của thành phố được xác định vào năm 2000, cách bờ biển hiện nay khoảng 6,5 km, ở độ sâu khoảng 10 m.

Điều kỳ lạ là chính sự chìm xuống biển lại giúp bảo tồn thành phố. Bùn và trầm tích bao phủ các công trình, tượng đá và đồ vật, giữ chúng trong một “viên nang thời gian” khổng lồ. Và những gì được tìm thấy cho thấy Thonis-Heracleion không biến mất vì một cuộc chiến hay sự sụp đổ của một nền văn minh, mà có thể là kết quả của một cuộc chiến lâu dài giữa con người và địa chất.

Đến nay, phần lớn thành phố vẫn nằm dưới nước. Theo nhóm khảo cổ của Franck Goddio, những gì được khám phá mới chỉ chiếm khoảng 5% toàn bộ khu vực đô thị cổ.

Thanh Bình (tổng hợp)


Đỗ Hữu Vị - Phi công người Việt đầu tiên trong lịch sử Không quân Thế giới.

Đỗ Hữu Vị sanh năm 1883 tại Chợ lớn, là con thứ năm trong số 11 người con của của tổng đốc Đỗ Hữu Phương (tục gọi là Tổng đốc Phương), một thương gia giàu có lừng lẫy tiếng tăm ở Nam Kỳ thời bấy giờ.
Trong số những phi công đầu tiên của Pháp là người Đông Dương có Phan Thất Tạo, Cao Đắc Minh, Felix Xuân Nha, Đỗ Hữu Vị. Nhưng Đại úy Đỗ Hữu Vị, được xem là anh hùng nổi tiếng nhất. Đến nỗi, Pháp cho phát hành tem mang hình ông.
Sau bậc trung học tại trường Janson-de-Sailly, một trường nổi tiếng vào bậc nhất ở Paris, Đỗ Hữu Vị nhập trường sĩ quan Saint-Cyr vào năm 1904. Năm 1906 ông ra trường với quân hàm thiếu uý trong binh đoàn Lê dương số 1. Năm 1910, Đỗ Hữu Vị vào trường quân sự lái máy bay (l’école militaire de pilotage) và 11 tháng sau tốt nghiệp với chức vị trung úy phi công. Cuối năm 1911, ông cùng Ménard thực hiện chuyến bay vòng quanh nước Pháp lần thứ nhất.
Năm 1914, Đỗ Hữu Vị trở về Sài Gòn để học thực hành về một loại thuyền lướt trên mặt nước, chạy bởi động cơ cánh quạt máy bay do Charles de Lambert chế tạo trên sông Cửu Long.
Năm 1915, trên đường trở về đơn vị sau một trận đánh với quân Đức, máy bay của Đỗ Hữu Vị rớt vì bị bão cuốn, ông bị thương nặng gẫy cánh tay trái, hàm mặt và phần sọ bên dưới, hôn mê chín ngày, nhưng sống sót.
Không được lái máy bay nữa, Đỗ Hữu Vị, với quân hàm đại úy, xin trở về quân đội Lê dương số 1, được phong chỉ huy đội quân số 7 có khoảng từ 100 đến 300 lính, chiến đấu trên mặt trận vùng Somme, là một trong những mặt trận khốc liệt nhất trong thế chiến thứ nhất.
Ngày 9/7/1916, trong một cuộc tấn công quân Đức trên địa bàn giữa hai làng Belloy-en-Santerre và Estrée, Đỗ Hữu Vị xung phong, bị trúng nhiều phát đạn, hy sinh ngay trên trận tuyến. Thi thể của ông được an táng tại làng Dompierre thuộc vùng Somme. Năm 1921, người anh cả của ông là Đỗ Hữu Chấn đã cho chuyển hài cốt của ông về an táng trong phần mộ gia đình tại Việt Nam.

Ở Sài Gòn trước kia cũng có một con đường mang tên Đỗ Hữu Vị, chạy từ bùng binh chợ Bến Thành đến chợ cũ, giáp đường Charner (nay là đường Nguyễn Huệ), nay được đổi tên thành đường Huỳnh Thúc Kháng, Quận 1.
Hiện ở Lái Thiêu, Bình Dương cũng có tên đường mang tên ông.
Ngoài ra, ở Pháp có con đường mới mang tên Do Huu Vi thuộc thị trấn Laffaux vùng Picardie. Từ đường dòng họ Đỗ Hữu hiện nay nằm trên đường Điện Biên Phủ, quận 3, còn gọi là Đền Bà Lớn.

Sưu tầm



Saigon 1938 - 1939 - Tượng linh mục Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cảnh phía trước Nhà thờ Đức Bà. Tay phải của tượng linh mục Bá Đa Lộc có cầm một văn bản, đó là Hiệp ước Versailles năm 1787.

Hiệp ước Versailles năm 1787 (tiếng Pháp: Traité de Versailles de 1787) là một hiệp ước ký kết giữa một bên là bá tước Montmorin đại diện cho vua nước Pháp Louis 16 và một bên là Pigneau de Behaine (Bá đa lộc) thay mặt Nguyễn Ánh. Nội dung chủ yếu là việc Pháp giúp Nguyễn Ánh đánh Tây Sơn để đổi lại các quyền lợi về đất đai, quân sự và kinh tế tại Việt Nam.

Sau thất bại ở Việt nam 8/1945, người Pháp đã rút quân về nước, và bức tượng nầy cũng được đem về Pháp

 Sưu tầm








Không có nhận xét nào: